Lưu trữ

Chủ Thuyết Thần Tạo, Giữa Những Xác Tín Tôn Giáo Và Những Dữ Kiện Khoa Học

Dẫn nhập

Chủ thuyết thần tạo (créationnisme) là một hiện tượng xã hội. Đầu năm 2007, báo chí đã đưa tin như sau :

« Phần đông các trường đại học, trung học và cao đẳng của Pháp đã nhận được một cuốn sách tuyệt đẹp, có tựa đề Tập bản đồ về Công Trình Tạo Dựng, mà với 770 trang được minh họa rất phong phú, bác bỏ chủ nghĩa Darwin và lý thuyết tiến hóa. Được viết bởi một Harun Yahya nào đó (có tên thật là Adnan Oktar), thuộc quốc tịch Thổ Nhĩ Kỳ (1), tác phẩm, được gởi trực tiếp với cả hàng tá ngàn bản từ Thổ Nhĩ Kỳ và Đức, muốn tố giác « sự bịp bợm của các người theo chủ thuyết tiến hóa, những khẳng định đánh lừa của họ » và nhất là « những mối liên hệ bí ẩn giữa chủ nghĩa Darwin và những ý thức hệ đẫm máu như chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản. » (Le Figaro, 2/02/2007).

Chủ thuyết thần tạo là một hình thức chủ nghĩa cơ yếu tôn giáo (fondamentalisme religieux), tương đối nổi tiếng, nhất là ở Hoa Kỳ. Đối với những người theo chủ thuyết thần tạo, lý thuyết tiến hóa, mà họ gọi là chủ nghĩa tân Darwin, là sai lầm ; họ đối lập với lý thuyết này một trong những việc đọc Công trình tạo dựng bằng cách dựa vào một trong những trình thuật của sách Khởi Nguyên, mà họ giải thích theo nghĩa đen.

Nếu đối với những người theo chủ nghĩa cơ yếu, Thánh Kinh rõ ràng là một mạc khải của Thiên Chúa, thì điều đó đảm bảo chân lý của nó trong mọi lãnh vực. Ý niệm chủ nghĩa cơ yếu quy chiếu đến một chủ nghĩa cấp tiến (radicalisme) vốn núp bóng đằng sau cách ngôn nền tảng của phái Cải Cách : duy Thánh Kinh (sola scriptura). Thế nhưng, thành ngữ có giá trị thần học cao này đã không bao giờ muốn có nghĩa là một việc đọc đơn giản các trình thuật Thánh Kinh. Tức là một kiểu đọc sẽ loại trừ mọi nỗ lực hiểu Thánh Kinh lưu tâm đến những đóng góp của khoa học. Ủy Ban Giáo Hoàng Thánh Kinh nhấn mạnh rất đúng đắn những người theo chủ nghĩa cơ yếu có lý ở chỗ nào « khi nhấn mạnh đến sự linh hứng Thánh Kinh của Thiên Chúa và đến sự bất khả ngộ (2) của Lời Chúa » ; nhưng những người theo chủ nghĩa cơ yếu sai lầm khi họ từ chối lưu tâm đến đặc tính lịch sử của Mạc Khải.

Chủ nghĩa thần tạo gần với chủ nghĩa cơ yếu về phần « bất khả ngộ lời nói của Thánh Kinh », vốn là một trong năm điểm xác định nó. Nhưng điều làm nên đặc điểm của những người theo chủ thuyết thần tạo, đó là họ coi như phù hợp với thực tại, trình thuật của Khởi Nguyên, sẽ là bản đúc kết chính xác sự hình thành của vũ trụ và sự sống.

[ Thuật ngữ « chủ nghĩa cơ yếu » (fondamentalisme) gắn với Hội nghị Thánh Kinh Hoa Kỳ đã diễn ra ở Niagara, tại Bang New York, vào năm 1895. Các nhà chú giải Tin Lành bảo thủ định nghĩa « 5 điểm chủ nghĩa cơ yếu » : bất khả ngộ lời nói của Kinh Thánh, thần tính của Chúa Kitô, việc sinh hạ đồng trinh của Người, học thuyết đền tội thay và sự phục sinh thân xác khi Chúa Kitô trở lại lần hai.

Chủ nghĩa cơ yếu trốn tránh mối tương quan chặt chẽ của yếu tố thần linh và yếu tố nhân loại trong các tương quan với Thiên Chúa. Nó được đánh dấu bởi một sự gắn bó phi thời gian với một cái nhìn về tạo dựng mà từ lâu đã thuôc về truyền thống…

Nó muốn bàn về bản văn Thánh Kinh như thể nó được đọc từng từ một bởi Thánh Thần và không đi đến chỗ nhìn nhận rằng Lời Thiên Chúa đã được trình bày trong một ngôn ngữ và một ngữ cú (phraséologie) được điều kiện hóa bởi một thời đại như thế…

Chủ nghĩa cơ yếu cũng nhấn mạnh cách không đúng đến sự bất khả ngộ của các chi tiết trong các bản văn Thánh Kinh, đặc biệt về các sự kiện lịch sử hay những chân lý mạo xưng là khoa học

[Giải thích Kinh Thánh trong Giáo Hội, Ủy Ban Giáo Hoàng Kinh Thánh, Cerf, 1993, tr. 61 tt.]

LÝ THUYẾT TIẾN HÓA

Cho đến cuối thế kỷ XVIII, người ta vẫn còn giữ một quan niệm của thuyết định chủng về các loài sinh vật – điều đó phù hợp với ý tưởng mà người ta đang có vào thời đó về Đấng Tạo Hóa. Vào năm 1737, Linné đã nói rằng : « Muôn loài có nguồn gốc của mình […] từ chính bàn tay của Đấng Tạo Hóa (Đấng) […] đã áp đặt cho các thụ tạo của Ngài một luật vĩnh cửu sinh sản và nhân tăng trong những giới hạn của kiểu mẫu của riêng nó. » Vào năm 1809, Lamarck xuất bản cuốn Triết học về động vật (Philosophie zoologique), trong đó, ông cho biết về một trong những khám phá sâu xa nhất của ông : các sinh vật biến đổi dần dần tùy theo các thế hệ dưới sự thúc đẩy của một « sức mạnh tổ chức » (force organisatrice) muốn làm cho chúng luôn luôn phức tạp hơn và biến chuyển hơn. Trong thời gian lâu, ý tưởng về một sự tiến hóa này nơi mà sự ngẫu nhiên không có chỗ của nó vẫn sẽ rất hợp « mốt » – nhất là ở Pháp (đặc biệt với Bergson trong cuốn Sự tiến hóa sáng tạo (L’évolution créatrice) và Teilhard de Chardin trong cuốn Hiện tượng con người (Le phénomène humain (3)). Vào năm 1859, Darwin đưa vào ý tưởng rằng sự tiến hóa các loài là do bởi một sự chọn lọc tự nhiên, một sự chọn lọc đến từ việc những kẻ nào thích nghi nhất sẽ truyền lợi thế của họ cho con cháu của mình.

Chỉ vào giữa thế kỷ XX sẽ được đề nghị những gì được gọi là « lý thuyết tiến hóa tổng hợp» (théorie synthétique de l’évolution), vốn tập hợp các kết quả của khoa cổ sinh vật học, của sinh vật học và của di truyền học (xuất thân từ những công trình của Mendel) để đề nghị một lý thuyết theo đó sự tiến hóa của các sinh vật – một sự tiến hóa dần dần và liên tục trong suốt các thế hệ – khởi đi từ một nền tảng di truyền : những đột biến di truyền ngẫu nhiên (des mutations génétiques aléatoires), nhưng tiếp đến qua sự sàng lọc của sự chọn lọc tự nhiên vốn chọn lựa những cá thể thích hợp nhất với mỗi trường của chúng.

Lý thuyết này là nền tảng của các công việc hiện nay ; nó không phải là tiếng nói sau cùng và có những giải thích khác được đề nghị – tất cả đều trong sự nối dài lý thuyết tổng hợp. Chẳng hạn, lý thuyết « trung lập chủ nghĩa » (neutraliste) được đưa ra vào năm 1970 bởi nhà di truyền học Kimura, người Nhật, và hóa thân gần đây của nó, « thuyết tân đột biến » (néo-mutationnisme), dành chỗ trung tâm cho chỉ sự ngẫu nhiên (và ít chỗ hơn cho sự chọn lọc tự nhiên). Những thuyết khác nữa cho rằng sự tiên hóa không liên tục : các hình thức sống nói chung vẫn ổn định, sự hình thành các loài mới được thực hiện trong suốt các biến cố có hạn kỳ và hiếm hoi ; đó là « lý thuyết các cân bằng có hạn kỳ » (théorie des équilibres ponctués) của hai nhà cổ sinh vật học Hoa Kỳ, Nils Eldredge và Stephen Jay Gould, cũng vào năm 1970.

CHỦ THUYẾT THẦN TẠO Ở HOA KỲ

Các ý tưởng của chủ thuyết thần tạo đặc biệt hiện diện nơi thế giới anglo-saxon, Úc nhưng còn hơn nữa ở Hoa Kỳ – nơi mà chúng được truyền bá từ phía Nam nông thôn của Vành Đai Thánh Kinh Thánh (« Bible Belt »), khu vực địa lý và xã hội học này có tỉ lệ cao những người theo chủ thuyết cơ yếu sinh sống (đặc biệt những người theo phái Baptistes ở phía Nam và những người theo phái Cơ Đốc Phục Lâm của ngày thứ Bảy), để vươn tới các tầng lớp dân cư của các Bang phía Bắc.

Cho đến gần đây, lịch sử Hoa Kỳ đã được đánh dấu bởi nhiều tranh cãi giữa những người theo chủ thuyết thần tạo và những người theo thuyết tiến hóa, thậm chí bởi những vụ kiện cáo. Sự hiện diện của những người theo chủ thuyết thần tạo đã được biểu lộ bằng nhiều cách khác nhau :

* Thiết lập Hội Nghiên Cứu Công Trình Tạo Dựng (Creation research society (CRS)) từ năm 1962, muốn tái đặt nền tảng khoa học trên những khái niệm sáng tạo thần linh (x. đóng khung dưới đây), và xuất bản những sách giáo khoa ;

* Cuộc thăm dò Gallup vào năm 1993 cho thấy rằng 47% dân Mỹ cho rằng « Thiên Chúa đã tạo dựng con người gần như trong hình dạng hiện nay của nó và bằng một lần, cách nay dưới 10.000 năm », 35% cho rằng « con người được phát triển từ những hình thức sống kém tiến bộ hơn, qua hàng triệu năm, và Thiên Chúa đã hướng dẫn tiến trình này », và chỉ 11% cho rằng « con người được phát triển từ những hình thức sống kém tiến bộ hơn, qua hàng triệu năm, nhưng Thiên Chúa chẳng có vai trò nào trong tiến trình này » ;

* và nhất là những luật lệ trong một số Bang đòi hỏi sự bình đẳng giữa việc giảng dạy « khoa học về tạo dựng » và khoa học về sự tiến hóa (điều mà Ronald Reagan đã yêu cầu từ cuộc  vận động bầu cử tổng thống vào năm 1980, cũng như ứng viên của Đảng Cộng Hòa Pat Buchanan vào năm 1995) ; những đòi hỏi đã mang lại những quấy rầy âm ỉ trên hệ thống giáo dục Hoa Kỳ.

« Bản Tuyên Tín của Hội Nghiên Cứu Công Trình Tạo Dựng »

Mọi thành viên phải tán thành quy chế sau :

1. Thánh Kinh là lời nói của Thiên Chúa được viết ra, và vì nó hoàn toàn được linh ứng, nên tất cả những điều khẳng định của nó, về mặt lịch sử và khoa học, đều đúng trong các bản văn gốc. Đối với ai nghiên cứu thiên nhiên, điều đó có nghĩa rằng trình thuật về nguồn gốc (của vũ trụ và con người) trong sách Khởi Nguyên là một trình bày thực sự chỉ các chân lý lịch sử.

2. Tất cả các loại hình sinh vật căn bản, bao gồm con người, đã được tạo dựng bởi những hành vi tạo dựng thần linh trực tiếp trong suốt Tuần Tạo Dựng được mô tả trong sách Khởi Nguyên. Mọi thay đổi sinh học xảy đến từ khi Tạo Dựng chỉ có thể được thực hiện ở bên trong các loại hình được tạo dựng từ nguyên thủy.

3. Cơn đại lụt được mô tả trong sách Khởi Nguyên, mà người ta gọi dưới danh xưng Đại Hồng Thủy (Déluge), đã là một biến cố lịch sử trên thế giới trong tầm vi và trong hiệu quả của nó.

Cách chung chung, những phong trào chủ thuyết thần tạo đều có một quyền lực chính trị thực sự. Quả thế, chúng có một chiều kích xã hội, gắn với mối liên hệ giữa việc diễn tả tôn giáo và cái nhìn khoa học về thế giới, cũng như với chủ thuyết bảo thủ luân lý của chúng ; chúng gần với những phong trào mà mơ về một Châu Mỹ Kitô giáo và về việc tái lập một nền luân lý đích thực ; chúng sợ rằng để đặt vấn đề lại chỉ một câu trong Thánh Kinh, đó là hoàn toàn đặt Thánh Kinh vào nguy hiểm- cánh cửa mở ra cho dị giáo và cho bội giáo và, đối với các xã hội của chúng ta, sự đe dọa về những cái xấu tồi tệ nhất là chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa cộng sản, đồng tính luyến ái, ma túy… ; chúng truyền bá ý tưởng của mình nơi các trường công và có những phương tiện tài chính quan trọng.

Có « những trường phái » chủ thuyết thần tạo khác nhau :

* Những người theo chủ thuyết thần tạo Trái đất trẻ tuổi (young-earth creationists), ngày này rất lan rộng, theo đó Vũ Trụ đã được tạo dựng trong sáu ngày gồm 24 giờ, cách nay từ 4000 đến 20000 năm (theo các trường phái), chứ không phải cách nay hàng tỉ năm (4) ; tất cả các loài đã được tạo dựng từ hư không (ex nihilo) dưới hình thức hiện nay của chúng, điều này không loại trừ việc đã có thể có một vài tiến hóa nơi mỗi loài (chẳng hạn để giải thích việc thuần dưỡng thú vật trong nhà ; về phần các đá trầm tích và các hóa thạch, sự hình thành của chúng hẳn đã xảy ra lúc Đại Hồng Thủy (vốn chiếm một chỗ mấu chốt trong các luận đề của chủ thuyết thần tạo).

* Những người theo chủ thuyết thần tạo Trái đất già tuổi (old-earth creationists), vốn tìm cách lưu tâm đến một số dữ kiện khoa học, chẳng hạn bằng cách tưởng tượng rằng công trình tạo dựng hiện nay hẳn đã được xúc tiến bởi cuộc tạo dựng dựng đầu tiên và một khoảng cách thời gian lâu dài mà suốt thời gian đó những trầm tích hẳn đã được lắng xuống ; hay còn bằng cách giải thích rằng mỗi ngày của công trình tạo dựng đã kéo dài hơn 24 tiếng (« đối với Chúa, một ngày là như 1000 năm… »), chẳng hạn cũng bằng như một kỷ nguyên địa chất.

* Những người theo chủ thuyết thần tạo tiệm tiến (progressive creationists), tìm cách quan tâm đến sự không mạch lạc giữa Thánh Kinh và những dữ kiện khoa học, nhưng lại cho rằng thuyết tiến hóa không cho phép giải thích các biến cố quan trọng nhất của lịch sử sự sống (sự xuất hiện của các động vật có vú, của con người…), những biến cố ngụ ý những can thiệp liên tiếp của Thiên Chúa.

KẾ ĐỒ THÔNG MINH

Cần phân biệt các phong trào vừa được đề cập khỏi các nhóm đã xuất hiện từ hai mươi năm nay. Nhóm quan trọng nhất và là tích cực nhất hiện nay là nhóm mà người ta gọi là Kế Đồ Thông Minh (intelligent design/ dessein intelligent) tập hợp các nhà khoa học đang tìm cách nối lại với truyền thống của thần học tự nhiên theo đó khoa học cho phép làm nổi bật trật tự của thế giới và quy về hành động của một đấng tạo hóa. Đối với phong trào này, sự phức tạp quá mức (extrême complexité) (cũng được gọi là sự phức tạp bất khả giảm trừ (irréductible complexité)) của sinh vật không thể là kết quả của một sự tiến hóa phục tùng duy sự ngẫu nhiên và (sự tiến hóa này) hẳn đã tìm thấy nguồn gốc của nó trong một bầu khí quyển và một đại dương đầu tiên; trái lại, điều đó chỉ có thể là sự thực hiện của một kế đồ, của một trí thông minh trổi vượt hiện diện ở chính trung tâm của thực tại. Phong trào “Kế đồ thông minh” được dùng đặc biệt để phê bình “chủ nghĩa duy vật phương pháp luận” (matérialisme méthodologique) gắn liền với một lối tiếp cận duy khoa hoc về nguồn gốc của thế giới tự nhiên (5), và ý tưởng rằng chính dưới tác động của các nhân tố bất tất mà các loài được biến đổi trong suốt thời gian. Nó thừa nhận một “trí thông minh tối thượng” (intelligence suprême) nhưng không có quy chiếu nào đến Thánh Kinh. Đó là một hình thức hữu thần thuyết (théisme) hay thần luận (déisme).

Nơi phong trào này, người ta nhận thấy có nhiều trường phái:

* Trường phái theo thuyết tiến hóa hữu thần (évolutionnistes théistes), nghĩ rằng, nếu Thiên Chúa đã tạo dựng thế giới, thì Ngài không ngừng tiếp tục can thiệp (công trình tạo dựng vì thế được tiếp tục);

* Trường phái theo thuyết tiến hóa thần luận (évolutionnistes deists), đối với họ, Thiên Chúa đã tạo ra vật chất, sự sống, nhưng cả những tiến trình tiến hóa, và tiếp theo đã để cho chúng vận hành.

Ở Hoa Kỳ, phong trào các ý tưởng này có một kế hoạch chính trị nhằm phục vụ cho chính sách của các nhà bảo thủ và, qua đó, một trợ cấp tài chính quan trọng xâm chiếm Âu Châu và được tạo nên thành nhóm áp lực bởi những kế hoạch khác nhau.

Trong vòng ảnh hưởng này, cần phải trích dẫn Michael Denton, y sĩ người Úc, và cuốn sách của ông Sự tiến hóa phải chăng nó có một ý nghĩa? (6). Nó hệ tại một tiểu luận về “thần học tự nhiên”, theo đó “sự sống, con người và mọi hiện tượng tiến hóa đã được sinh ra bởi […] một mục đích, được ghi khắc cách mầu nhiệm trong bản tính các sự vật từ nguyên thủy”. Đối với sinh vật, Denton chủ trương ý tưởng về một sự tiến hóa được hướng dẫn, về một kế đồ, với sự xuất hiện của con người nằm ở trung tâm và đỉnh cao; mọi sự được diễn ra như thể có người đã suy nghĩ và đã đưa vào những luật lệ của vật lý và sinh học; nếu đã có thể có ở đó những đột biến ngẫu nhiên, thì tất cả đột biến không phải như thế, và sự xuất hiện của sự sống là một hiện tượng thuộc bản chất “siêu việt” (transcendante).

CHỦ THUYẾT THẦN TẠO Ở PHÁP

Tại Pháp, ảnh hưởng của chủ thuyết thần tạo không chỉ đến từ bên ngoài (Thổ Nhĩ Kỳ…); nó cũng được biểu lộ cách nội sinh. Nếu lãnh vực công cộng và giới học đường ít nhất thoát khỏi đó (các chương trình được soạn thảo theo cách tập trung và trong chừung mực nào đó, được bảo vệ khỏi các hình thức chiêu dụ tín đồ), thì trái lại sự bành trướng của chủ thuyết thần tạo trong lãnh vực riêng tư là có thể nhận thấy được. Có thể dẫn chứng:

* Trung tâm nghiên cứu lịch sử và khoa học (CESHE), được thành lập vào năm 1971 và nhận lấy 600 thành viên, mà “tuyên xưng sự bất khả ngộ khoa học và lịch sử của Thánh Kinh, trong mối quan hệ với các hiệp hội nhìn nhận vị trí ưu việt của con người và của trái đất ở trung tâm của Công Trình Tạo Dựng”.

* Hiệp hội “Từ nguyên thủy”, mà “mục đích của nó là cho biết quan điểm của chủ thuyết thần  tạo, được đặt cơ sở trên bản văn của sách Khởi Nguyên cũng như trên những quan sát khoa học”.

* Guy Berthault, một cựu sinh viên Bách Khoa, điều hành những nghiên cứu nhắm đến một dự án kép: trẻ hóa trái đất đến 4 tỉ năm, và làm cho cỏ vẻ thực tính lịch sử của Lụt Hồng Thủy trong đó những lớp trầm tích hẳn đã được lắng xuống; vả lại, ông chủ trương rằng sự tiến hóa của các loài là một ảo tưởng.

Cần phải để riêng ra Đại Học liên ngành Paris (UIP), vốn nằm trong sự ảnh hưởng tri thức của chủ thuyết Kế Đồ Thông Minh: “Một con số không ngừng gia tăng các nhà sinh vật học nghĩ rằng sự chọn lọc tự nhiên và những đột biến ngẫu nhiên không thể giải thích được tính phức tạp và tính thích nghi của các sinh vật cũng như những sự kiện cổ sinh vật học” (Jean Staune (7)). Mục đích của nó là làm cho tương thích các sự kiện khoa học và các tín điều tôn giáo; nó nghĩ rằng mọi hiện tượng, vì chưa nhận được một lời giải thích khoa học, nên vẫn là một phạm vi có thể cho một lời kêu gọi đến với sự siêu việt. Thế nhưng, quy chế “đại học” của nó không được Nhà Nước thừa nhận. Nó thường tổ chức các lớp học và các cuộc hội thảo (8).

MỘT VÀI VẤN NẠN…

Người Kitô hữu không thể xem xét cách dửng dưng chủ thuyết thần tạo, vốn qui chiếu đến Thánh Kinh, cũng như thuyết Kế đồ thông minh. Đặc biệt, truyền thống Kitô giáo đã luôn luôn thừa nhận một chỗ cho thần học tự nhiên trong cách hiểu của mình về mầu nhiệm tạo dựng và lối suy tư của nó về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Hơn nữa, nó khẳng định rằng trong mọi giây phút Vũ Trụ lãnh nhận từ Thiên Chúa những gì làm nên thực tại của công trình tạo dựng của mình, vừa yếu tính vừa sự hiện hữu của nó.

Đọc Kinh Thánh Như Thế Nào?

Những câu trả lời cho những câu hỏi được đặt ra bởi chủ thuyết thần tạo có liên quan đến cách thức đọc Thánh Kinh. Các Kitô hữu theo chủ thuyết thần tạo cũng cho rằng Thánh Kinh là một cuốn sách được Thiên Chúa linh hứng. Nhưng họ đón nhận bản văn Thánh Kinh như là do Thiên Chúa đọc cho chép và vì thế được đóng dấu bất khả ngộ và tuyệt đối. Quan niệm linh hứng như là được Thiên Chúa đọc cho chép làm nền tảng cho xác tín của họ rằng bản văn Thánh Kinh thắng vượt các tri thức nhân loại. Đối với họ, quan điểm của Thiên Chúa là trổi vượt quan điểm của khoa học, bởi vì khoa học diễn dịch chân lý cách chăm chỉ từ công việc quan sát và phân tích, đang khi Thiên Chúa nhìn thấy mọi sự cách trực tiếp và Ngài là bất khả ngộ. Bản văn mà Ngài đọc cho chép do đó thắng vượt trên những suy nghĩ của các nhà khoa học.

Sai lầm liên quan đến bản chất của bản văn Thánh Kinh và ý niệm mạc khải. Việc đọc bản văn Thánh Kinh theo nghĩa đen là tốt khi nó làm nền móng cho mọi cách đọc khác. Cách nào đó, nó vẫn là cách đọc đầu tiên. Nhưng nó không đủ. Nhiều lần trong thế kỷ qua và đặc biệt trong Hiến chế Dei Verbum, Giáo Hội đã chỉ ra “con đường đúng đắn đưa đến việc hiểu Thánh Kinh” (9). Ý thức được trợ giúp bởi Thánh Thần trong sự hiểu biết này và trong lối giải thích Thánh Kinh của mình, việc đọc Thánh Kinh của người Kitô hữu không từ chối mọi cách đặt vấn đề và mọi nghiên cứu phê bình. “Tất cả những gì làm cho hẹp hòi chân trời của chúng ta và ngăn cản chúng ta mang cái nhìn và sự lắng nghe của chúng ta bên kia những gì đơn giản là nhân loại, cần phải được loại bỏ, để duy trì sự cởi mở” (10).

Đức Gioan Phaolô II đã diễn tả rõ ràng về vấn đề này lúc giới thiệu công việc của Ủy ban Giáo Hoàng Thánh Kinh, ngày 23/04/1993 (11): “Một số Kitô hữu có khuynh hướng tin rằng, Thiên Chúa vì là Hữu Thể tuyệt đối, nên mỗi một lời nói của Ngài đều có một giá trị tuyệt đối, độc lập với tất cả các điều kiện hóa của ngôn ngữ của con người. Bởi thế, theo họ, không có lý lẽ để nghiên cứu các điều kiện hóa hầu tiến hành các phân biệt vốn hẳn sẽ tương đối hóa tầm quan trọng của các lời nói. Nhưng trên thực tế, đó là tự ảo tưởng và từ chối các mầu nhiệm về sự linh ứng của Thánh Kinh và về sự Nhập thể, để bám vào một ý niệm sai lầm về Tuyệt đối […].

Không có khía cạnh nhân loại nào của ngôn ngữ có thể bị coi thường. Những tiến bộ gần đây của các nghiên cứu ngôn ngữ học, văn chương và chú giải đã đưa khoa chú giải Thánh Kinh đến chỗ thêm vào việc nghiên cứu các thể loại văn chương nhiều quan điểm khác nhau (tu từ học, thể tường thuật, thể cấu trúc); các khoa học nhân văn khác, như tâm lý học và xã hội học, cũng đã được đem vào đóng góp. Như thế, người ta có thể áp dụng mệnh lệnh mà Đức Lêô XIII đã đưa ra cho các thành viên của Ủy ban Thánh Kinh: “ Đừng cho là xa lạ gì với lãnh vực của mình những gì mà việc nghiên cứu công nghiệp của các tác giả hiện đại sẽ tìm ra một lần nữa; trái lại, hãy có đầu óc cảnh giác để thích nghi không chậm trễ những gì mà mỗi giây phút mang lại hữu ích cho khoa chú giải Thánh Kinh” (Vigilantiae, Enchiridion Biblicum, số. 140)”.

Nhưng Đức Gioan Phaolô II cũng làm rõ: “Để tôn trọng sự mạch lạc của đức tin của Giáo Hội và của sự linh hứng của Thánh Kinh, khoa chú giải Công giáo cần phải chú tâm không chỉ dừng lại ở những khía cạnh nhân loại của các bản văn Thánh Kinh. Nó cũng cần phải và nhất là giúp đỡ dân Kitô hữu nhận ra rõ ràng hơn lời Thiên Chúa trong các bản văn này, để đón nhận nó tốt hơn, để sống trọn vẹn với Thiên Chúa. Với mục đích này, rõ ràng cần thiết việc chính nhà chú giải cần nhận ra nơi các bản văn lời Thiên Chúa và điều đó chỉ có thể đối với họ nếu công việc trí thức của họ được nâng đỡ bởi một đà sống thiêng liêng…Việc nghiên cứu khoa học chỉ các khía cạnh nhân loại của các bản văn mà thôi có thể làm cho quên rằng Lời Chúa mời gọi mỗi người ra khỏi chính mình để sống trong đức tin và đức mến.”

Sự Toàn Năng Của Thiên Chúa

Một vấn nạn siêu hình học được chủ thuyết thần tạo đặt ra là vấn nạn về quan niệm về sự toàn năng của Thiên Chúa. Để đơn giản, có thể đối lập hai truyền thống:

* Trong truyền thống đầu tiên, ý niệm toàn năng chỉ đặc tính tuyệt đối của quyền năng của Thiên Chúa, xem như làm tất cả những gì Ngài muốn. Trường phái tư tưởng này nhấn mạnh đến từ ngữ “tất cả” vốn vừa chỉ tính phổ quát của những gì hiện hữu, nhưng cũng nhấn mạnh đến tính phổ quát của những gì có thể hiện hữu, và ngay cả của những gì không thể được tưởng tượng bởi tâm trí của con người. Không có gì hạn chế hành động của Thiên Chúa, nhưng chính Thiên Chúa tự hạn chế.

* Trong truyền thống thứ hai, hành động của Thiên Chúa được quy về ý niệm khôn ngoan; ý niệm này ngụ ý trật tự của các yếu tố và sự tương xứng giữa các nguyên nhân và hậu quả. Như thế, ý muốn của Thiên Chúa được quyết định bởi sự thiện hảo và sự thiện hảo này có các ý niệm trật tự và mạch lạc làm chuẩn mực; các sự vật là cân xứng và chuỗi nhân quả đều được sắp đặt. Trong viễn cảnh Công giáo vừa được Đức Bênêđictô XVI nhắc lại ở Ratisbonne, ngày 12/09/2006, – viễn cảnh mà ưu tiên sự khôn ngoan của Thiên Chúa so với ý muốn – thì người ta có thể hiểu tại sao hành động của Thiên Chúa không làm sai lệch bản chất của các biến cố và do đó, tôn trọng các luật tự nhiên mà ngài thiết lập. Điều đó cho phép chứng tỏ rằng sự mâu thuẫn (antinomie) giữa sự tiến hóa và việc tạo dựng là một sai lầm.

Khoa Học Và Đức Tin

Cuộc tranh luận được khai mào bởi chủ thuyết thần tạo cũng chạm đến các tương quan giữa khoa học và đức tin. Đối với Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, thuyết tiến hóa, vốn đặt ở hàng đầu các đột biến, sự chọn lọc tự nhiên và những tiến trình ngẫu nhiên trong việc giải thích lịch sử của sự sống và của thế giới, dựa trên những nền tảng khoa học chắc chắn. Ngày 23/10/1996, trước Hàn lâm viện Tòa Thánh các khoa học, Đức Giáo hoàng khẳng định rằng các tri thức khoa học được tích lũy từ 50 năm nay đưa đến việc “nhìn nhận nơi thuyết tiến hóa còn hơn cả một giả thuyết […]; sự đồng nhất các công trình nghiên cứu được thực hiện độc lập với nhau tạo nên một lập luận chứng tỏ ủng hộ lý thuyết này”. Đức Gioan Phaolô II nói rõ rằng đúng hơn nên phải nói về các lý thuyết tiến, hóa, vì có một “sự đa dạng giải thích đã được đề nghị về cơ chế của sự tiến hóa, và mặt khác [có] những triết thuyết khác nhau mà người ta dựa vào: có những cách đọc duy vật và giảm trừ chủ nghĩa, và những cách đọc duy tâm linh (spiritualistes)”.

Trước tiên, cuộc tranh cãi nằm ở bình diện triết học: nó liên quan đến những triết thuyết của các tác giả bàn về sự tiến hóa chứ không phải khoa học như thế (các sự kiện, các nguyên lý và kết cấu lý thuyết). Theo một độc thần thuyết nhiệm nhặt tôn trọng sự siêu việt của Thiên Chúa, thì không có đối lập giữa hành động của Thiên Chúa và tiến trình chọn lọc tự nhiên hay những đột biến ngẫu nhiên. Thần học Công giáo thừa nhận rằng Thiên Chúa không lệ thuộc các luật của thiên nhiên mà Ngài sẽ hành động tùy theo chúng. Ngài tạo dựng thiên nhiên và khả năng của chúng ta nhận ra ở đó những “luật lệ”. Thánh Tôma đã nói điều này: “Do đó, chúng ta không xem xét các tạo vật từ những hành động của chúng, cho dù chúng ta gán cho Thiên Chúa mọi hệ quả của các tạo vật xét như là Ngài hoạt động trong mọi sự” (12).

Thế nhưng, những lời nói của Đức Giáo hoàng không thể được hiểu như là lời khẳng định rằng thuyết tiến hóa sẽ giải thích đầy đủ lịch sử của thế giới. Một lý thuyết chỉ là một giải thích về thực tại, vốn tha thiết lưu tâm đến các sự kiện được quan sát (bao gồm cả các sự kiện của quá khứ), những giả thuyết khác nhau mà người ta có đối với chúng, cũng như những luật lệ (chẳng hạn các luật của vật lý học); nhưng nó không thể được “trắc nghiệm” bên ngoài khoa học, và, chẳng hạn, nó không thể chứng minh được gì về hay chống lại Thiên Chúa, đặc biệt bởi vì khoa học không thể đi ngược lại cho đến “nguyên nhân đệ nhất”, nguồn gốc tối hậu. Bởi thế, nó mở ra những vấn nạn khác: “Thuyết tiến hóa bao hàm những vấn nạn vốn phải thuộc phạm vi của triết học và chính chúng vượt quá lãnh vực của khoa học”, Đức Bênêđictô XVI nhấn mạnh như thế lúc diễn ra cuộc hội thảo suy tư, vào năm 2006, ở Castel Gandolfo (13).

Vả lại, một lý thuyết tự nó không thể giải thích cách thức lý luận gợi hứng cho nó: lý trí khoa học “phải chấp nhận, như là một dữ kiện, cấu trúc lý tính của vật chất, hoàn toàn như sự tương ứng giữa tâm trí của chúng ta và những cấu trúc lý tính vốn tồn tại trong thiên nhiên, một dữ kiện trên đó phương pháp của nó được xây dựng; nhưng vấn nạn “tại sao nó lại như thế?” vẫn còn, và cần được chuyển đạt bởi các khoa học về tự nhiên ở những cấp bậc khác và những cách thức suy tư khác – thuộc triết học và thần học” (Bênêđictô XVI, Ratisbonne, 12/09/2006).

Tóm lại là có sự chấp nhận các chuẩn mực tri thức khác nhau. Bởi thế, đó là một nhiệm vụ chung cho khoa học, triết học và thần học là đề nghị sự thống nhất và mạch lạc, cho dầu chúng không thực thi điều đó ở cùng cấp độ, cũng không cùng cách thế. Những đề nghị thần học, được xây dựng trên khoa chú giải, nói với đức tin và không thể chịu phục tùng sự phê bình của khoa học. Những giả thuyết khoa học, trong sự chính xác của các kết quả của chúng, vẫn phải chịu tuân phục sự xác minh chặt chẽ. Lý trí thực thi khả năng của nó ở đó cách hoàn toàn tự do (14).

KẾT LUẬN

Cuối cùng, những tranh cãi giữa những người theo chủ thuyết thần tạo và những người theo thuyết tiến hóa là triệu chứng của hai thứ căng thẳng:

* Trước tiên, những căng thẳng trong mối quan hệ giữa diễn từ khoa học và diễn từ tôn giáo, mà cái này và cái kia đôi khi đều tỏ ra não trạng giáo điều. Khoa học là công việc lý trí: các lý thuyết tiến hóa là những lý thuyết mà đa số các nhà sinh vật học dựa vào đó; chúng cho phép, đối với chúng ta, và ngày nay, đưa ra một hình ảnh về thế giới, nhưng chắc chắn không thể có tham vọng mô tả tất cả thực tại. Đặc biệt, để đề cấp đến những vấn đề của cuộc sống, con người cần đến hai lãnh vực, lãnh vực của đức tin và lãnh vực của khoa học, riêng biệt, nhưng hữu ích cho nhau (nhất là nếu chúng biết cậy nhờ đền trung gian của triết học). Cách hỗ tương, thần học cần chấp nhận để mình bị chất vấn bởi hiện thực, chứ không lập lại y hệt những công thức giáo điều cố định.

* Tiếp đến, những căng thẳng giữa tất cả những ai có tham vọng biết câu trả lời cho câu hỏi cổ xưa về con người, câu hỏi về nguồn gốc của nó. Những gì đang là vấn đề dường như là vấn nạn về ý nghĩa của cuộc sống con người, cách chính xác hơn, về sự ghi khắc của con người trong vũ trụ. Cuộc sống của con người phải chăng nó có thể biết phải trái (sensée) trong một thế giới điên rồ (insensé) (thế giới này là “điên rồ” nếu sự vận hành của nó chỉ thuộc về sự ngẫu nhiên và sự tất yếu, mà điều đó chẳng chỉ ra một hướng nào)? Đó đã là câu hỏi của Jacques Monod (15), và câu trả lời là: chính con người mang lại ý nghĩa cho hành động của mình trong thế giới. Nhưng cách chung chung hơn, các xã hội Phương tây thường không bằng lòng nữa với sự tách rời giữa một cái “tại sao?” mà sẽ được dành riêng cho tôn giáo và một cái “thế nào?” dành riêng cho khoa học. Và các nhà khoa học thì trung thành với logic của họ và với ơn gọi của họ mỗi khi họ thử luôn đi xa hơn trong việc đi tìm câu trả lời cho cái “tại sao?” mà sự phức tạp của cái “thế nào?”, không thể vượt qua được bởi con người, đặt ra cho họ.

———————————————————-

(1) Chủ thuyết thần tạo của Hồi Giáo là khá linh hoạt, đặc biệt ở Thổ Nhĩ Kỳ ; nó phân phối nhiều tập sách nhỏ và tác phẩm, và tìm cách trừ bỏ khỏi việc giảng dạy ý tưởng tiến hóa.

(2) Từ tiếng Latinh inerrantia : phẩm chất của Kinh Thánh không dạy sai lầm nào.

(3) Tuy nhiên, Teilhard đã thừa nhận rằng, cho đến khi loài người xuất hiện, sự ngẫu nhiên là một yếu tố quan trọng của cơ chế tiến hóa.

(4) Tuổi của Vũ Trụ được lượng giá 14 tỉ năm, và tuổi của Trái Đất là khoảng 4,5 tỉ năm.

(5) Chủ nghĩa duy vật của lý thuyết tiến hóa của Darwin không đặc trưng cho lý thuyết này: mọi phương pháp tiến hành khoa học đều là duy vật.

(6) MICHAEL DENTON, L’évolution a-t-elle un sens ? (The long chain of coincidences), Fayard, 1997.

(7) JEAN STAUNE là người dẫn dắt của UIP, và vả lại là cố vấn và là nhà đạo tao trong doanh nghiệp. Ông dạy học ở HEC.

(8) Những tựa đề của một vài cuộc hội thảo năm 2007: « Người ta có thể khám phá Thiên Chúa nhờ khoa học không? », Lucien Daly, CNRS (ngày 14 tháng Ba); « Gặp gỡ nào giữa Khoa học và Đức tin? » François Euve, sj, (ngày 4 tháng Tư); « Sự tiến hóa và Công Trình Tạo Dựng xuyên qua lối tiếp cận của Teilhard de Chardin », Gustave Martelet, sj, (ngày 02 tháng Ba); « Một cái nhìn phi duy vật về các tương quan tinh thần-bộ não », Mario Beauregard, Université de Montréal (ngày 23 tháng Năm).

(9) ĐHY Ratzinger, Lời tựa cho văn kiện của Ủy ban Thánh Kinh “Việc giải thích Thánh Kinh trong Giáo Hội”, 1993, Cef, tr.21.

(10) Nt., tr. 19.

(11) Diễn văn cho các Hồng y và Ủy ban Giáo hoàng Thánh Kinh, Documentation catholique, số 2073, 1993, tr.503-508.

(12) Saint Thomas d’Aquin, Somme contre les Gentils, trad. Vincent Aubin, Flammarion, 1999, t.III, chap.99, p.247.

(13) Schöpfung und Evolution. Eine Tagung mit Papst Benedikt XVI in Castel Gandolfo. Préface du cardinal Christoph Schönborn, Sankt Ulrich Verlag, 2007.

(14) Những vấn nạn này được phân tích và được làm sáng tỏ trong cuốn sách của Pierre Gibert, Bible, mythes et récits de commencementColl. Parole de Dieu, editions du Seuil, Paris, chap.IV, 1986.

(15) Jacques Monod, Le hasard et la nécessité. Essai sur la philosophie naturelle de la biologie moderne, Le Seuil, 1970.

—————————————————-

Lm. Võ Xuân Tiến chuyển ngữ, theo Tài liệu của HĐGM Pháp, Documents Épiscopat, số 7/2007. Bản dịch từ năm 2009, và được chỉnh sửa.

 

Related Articles

Back to top button