Tuyên Ngôn Barmen
Tuyên ngôn Barmen hay Tuyên ngôn Thần học Barmen năm 1934 (tiếng Đức: Die Barmer Theologičnė) là một văn kiện được Kitô hữu ở Đức Quốc xã thông qua để phản đối phong trào Các Kitô hữu Đức. Theo quan điểm của các đại biểu tham dự Công nghị họp tại thành phố Wuppertal-Barmen vào tháng 5 năm 1934, phong trào Các Kitô hữu Đức đã làm tha hóa sự cai quản Giáo hội bằng cách biến Giáo hội thành lệ thuộc vào Nhà nước và đã du nhập ý thức hệ Quốc xã vào các Giáo hội Tin lành Đức, điều này trái ngược với Tin Mừng của Kitô giáo.
Tuyên ngôn chủ yếu do nhà thần học cải cách Karl Barth viết, nhưng đã trải qua nhiều sửa đổi, đặc biệt là với việc bổ sung điều khoản thứ năm (về hai vương quốc), do sự đóng góp ý kiến từ một số nhà thần học theo Luther.
Dưới đây là Tuyên ngôn :
Vì những sai lầm của nhóm “Các Kitô Hữu Đức” và của Chính Quyền Giáo Hội Đế Chế Đức hiện tại, vốn đang tàn phá Giáo hội và đồng thời cũng phá vỡ sự hợp nhất của Hội Thánh Phúc Âm Đức, nên chúng tôi tuyên xưng những chân lý Phúc Âm sau đây:
1. “Ta là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Ta ” (Ga 14,6). “Thật, tôi bảo thật các ông : Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp. Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu” (Ga 10,1.9).
Chúa Giêsu Kitô, như Người đã được chứng thực cho chúng ta trong Thánh Kinh, là Ngôi Lời Duy Nhất của Thiên Chúa, Đấng chúng ta phải nghe theo, phải tín thác và vâng phục trong sự sống cũng như cái chết.
Chúng tôi bác bỏ học thuyết sai lầm cho rằng Giáo hội có thể và nên thừa nhận như là nguồn mạch của lời tuyên xưng của mình, ngoại trừ và bên cạnh Ngôi Lời Duy Nhất này, còn cả những sự kiện, những thế lực, những nhân vật lịch sử và những chân lý như là mạc khải của Thiên Chúa.
2. “Chính nhờ Thiên Chúa, mà anh em được hiện hữu trong Đức Giêsu Kitô, Đấng đã làm cho anh em trở nên công chính, đã thánh hoá và cứu chuộc anh em” (1Cr 1,30).
Vì Chúa Giêsu Kitô là lời công bố đầy an ủi về ơn tha thứ cho tất cả tội lỗi của chúng ta, cho nên, cũng quan trọng như thế, Người cũng là lời loan báo mạnh mẽ của Thiên Chúa về những đời hỏi của Ngài trên toàn bộ đời sống của chúng ta. Nhờ Người, chúng ta hân hoan được giải thoát khỏi những mối dây ràng buộc vô thần của thế giới này để được tự do, biết ơn phục vụ những thụ tạo của Người.
Chúng tôi bác bỏ học thuyết sai lầm cho rằng có thể có những phạm vi trong đời sống của chúng ta trong đó chúng ta không thuộc về Chúa Kitô, nhưng thuộc về các thần thánh khác, những phạm vi trong đó chúng ta không cần đến sự công chính hóa và sự thánh hoá nhờ Người.
3. “Nhưng, sống theo sự thật và trong tình bác ái, chúng ta sẽ lớn lên về mọi phương diện, vươn tới Đức Kitô vì Người là đầu. Chính Người làm cho các bộ phận ăn khớp với nhau” (Ep 4,15- 16).
Giáo hội của Kitô là cộng đoàn của những anh em đồng đạo trong đó, nơi Lời Chúa và Bí Tích, nhờ Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu Kitô hiện đang hành động như là Đức Chúa. Bằng cả niềm tin và sự vâng phục của mình, bằng cả sứ mạng và lệnh truyền của mình, với tư cách là Giáo hội của những tội nhân đã được tha thứ, Giáo hội phải chứng tỏ giữa lòng thế giới tội lỗi này rằng Giáo hội thuộc về chỉ một mình Người, sống và có thể sống nhờ vào sự nâng đỡ an ủi của Người, và dưới sự hướng dẫn của chỉ một mình Người mà thôi, trong sự trông chờ ngày quang lâm của Người.
Chúng tôi bác bỏ học thuyết sai lầm cho rằng Giáo hội có thể được phép trao ban hình thức sứ điệp và mệnh lệnh của mình cho bất cứ điều gì mà bản thân Giáo hội mong muốn hay cho sự thăng trầm của những niềm tin ý thức hệ và chính trị đang thịnh hành của thời đại.
4. “Anh em biết: thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em” (Mt 20, 25-27).
Những chức vụ khác nhau trong Giáo hội không cung cấp cơ sở cho một số người để thực thi quyền bính trên kẻ khác, nhưng cho thừa tác vụ (nghĩa đen : « phục vụ ») mà toàn thể cộng đoàn được trao phó và chịu trách nhiệm thi hành.
Chúng tôi bác bỏ học thuyết sai lầm cho rằng, ngoại trừ thừa tác vụ này ra, Giáo hội có thể, và hẳn được phép, coi mình hay cho phép mình được coi là những nhà lãnh đạo đặc biệt [Führer*] được trao phó cho quyền bính cai trị.
5. “Hãy kính sợ Thiên Chúa. Hãy tôn trọng Hoàng Đế” (1P 2,17)
Thánh Kinh cho chúng ta biết rằng bởi sự uỷ nhiệm của Thiên Chúa, Nhà nước, trong một thế giới vẫn còn chưa được cứu độ mà Giáo hội cũng đang sống trong đó, có nhiệm vụ duy trì công lý và hoà bình, chừng nào sự phân định và khả năng của con người làm cho điều này trở nên khả thi, bằng sự răn đe và sử dụng quyền lực. Giáo hội nhìn nhận với lòng biết ơn và kính trọng đối với Thiên Chúa về lợi ích của sự uỷ nhiệm này. Giáo hội thu hút sự chú ý vào Quyền Năng của Thiên Chúa, giới răn và công lý của Thiên Chúa, và cùng với những điều này là trách nhiệm của những người cai trị và bị trị. Giáo hội tin tưởng và vâng phục quyền năng của Lời Chúa, nhờ đó Thiên Chúa giữ gìn mọi sự.
Chúng tôi bác bỏ học thuyết sai lầm cho rằng ngoài nhiệm vụ riêng biệt của mình ra, Nhà nước nên và có thể trở thành trật tự duy nhất và tuyệt đối của đời sống con người, và vì vậy Nhà nước cũng chu toàn luôn ơn gọi của Giáo hội.
Chúng tôi bác bỏ học thuyết sai lầm cho rằng ngoài nhiệm vụ riêng biệt của mình ra, Giáo hội nên và có thể đảm nhận bản chất, những nhiệm vụ và phẩm cách thuộc về Nhà nước và do đó tự mình trở thành một cơ quan của Nhà nước.
6. “Và đây, Thầy luôn ở cùng anh em cho đến tận thế” (Mt 28,20) “Lời Chúa không thể bị xiềng xích” (2Tm 2,9)
Nhiệm vụ của Giáo hội, cơ sở cho sự tự do của Giáo hội, cốt ở chỗ: thay mặt Chúa Kitô, và do đó trong sự phục vụ Lời Chúa và công việc của Người, để giải thoát mọi người, qua việc rao giảng và bí tích, qua sứ điệp về hồng ân nhưng không của Thiên Chúa.
Chúng tôi bác bỏ giáo lý sai lạc mà với sự háo danh của con người, Giáo hội có thể đặt để Lời Chúa và công việc của Thiên Chúa vào việc phục vụ cho những kế hoạch, mục đích và ước muốn riêng của mình.
Công nghị Tuyên Tín của Hội Thánh Phúc Âm Đức tuyên bố rằng Công nghị nhận thấy trong sự thừa nhận những chân lý này và trong việc bác bỏ những sai lạc này, nền tảng thần học không thể thiếu của Hội Thánh Phúc Âm Đức với tư cách là một liên hiệp của những Hội Thánh Tuyên Tín. Công nghị chính thức mời gọi mọi người hãy sát cánh với Tuyên ngôn để lưu tâm đến những phát hiện thần học này trong những quyết định của mình liên quan đến Giáo hội và Nhà nước. Công nghị cũng khần khoản kêu gọi mọi người hãy quan tâm đến việc quay về và hiệp nhất trong đức tin, đức cậy và đức mền.
——————————————
Tý Linh chuyển ngữ
—————————————————-
* Từ này được Đảng Quốc xã sử dụng để tôn vinh Hitler như một nhà lãnh đạo tuyệt đối, gắn liền với Führerprinzip (nguyên tắc lãnh đạo) mà Hitler đã đề xướng từ năm 1921 (ctcnd).
