TRÁI VỚI SỰ HIỆP NHẤT MÀ ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV ĐANG CỔ VÕ: NHỮNG HÀNH ĐỘNG VÀ PHÁT BIỂU CỦA MỘT SỐ GIÁM MỤC LÀM GIA TĂNG SỰ PHÂN CỰC VÀ GÂY HOANG MANG
30/07/2026
Một trong những ưu tiên hàng đầu trong triều đại giáo hoàng của Đức Thánh Cha là sự hiệp nhất. Đây không chỉ là một tuyên bố về đường hướng mục vụ, nhưng còn được thể hiện qua những bước đi cụ thể nhằm vun đắp sự hiệp thông trong Giáo hội. Thực trạng của Giáo hội Công giáo khi Đức Lêô XIV đảm nhận triều đại giáo hoàng của ngài cho thấy nhu cầu ấy hết sức cấp thiết. Tình trạng phân cực trong xã hội cũng đã phản chiếu sự phân cực ngay trong đời sống Giáo hội. Một ví dụ gần đây, xét trên một phương diện cụ thể, là việc Huynh đoàn Thánh Piô X truyền chức giám mục mà không có ủy nhiệm của Đức Giáo Hoàng. Tuy nhiên, ở một bình diện khác, còn có nhiều hành động và phát biểu riêng lẻ của những người đang đảm nhận các chức vụ trong Giáo hội, trong đó có cả một số giám mục.
Vì thế, cần trình bày các sự kiện một cách khách quan, xem xét những cách diễn giải có thể có và quy chiếu về giáo huấn bất biến của Giáo hội như ngọn hải đăng soi sáng những điểm thiếu nhất quán. Đồng thời, cũng cần chỉ ra rằng một số phán quyết nhất định đã vô tình gây phương hại cho nỗ lực hòa giải.
Một trường hợp đáng chú ý là Đức Giám mục Giáo phận Ávila (Tây Ban Nha), đã cấm một linh mục tuyên úy thuộc một nhóm tín hữu cổ võ Thánh lễ bằng tiếng Latinh cử hành Thánh lễ này cho một đoàn hành hương đến từ Hoa Kỳ. Ngày 15 tháng 6, cha João Silveira, một linh mục truyền giáo thường quy tụ các cộng đoàn cử hành Thánh lễ bằng tiếng Latinh tại nhiều quốc gia, cho biết trên mạng xã hội X rằng một đoàn hành hương Hoa Kỳ đã xin sử dụng một nhà nguyện tại thành phố Ávila. Khi Văn phòng Toà Giám mục được thông báo rằng Thánh lễ sẽ được cử hành bằng tiếng Latinh, đoàn được trả lời rằng “cần phải có phép của Đức Giám mục” vì “hình thức Thánh lễ này bị cấm trong giáo phận.” Quyết định này do Đức Giám mục Jesús Rico García – được Đức Giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm năm 2023 – ban hành.
Một trường hợp tương tự cũng xảy ra tại Giáo phận Owensboro, bang Kentucky (Hoa Kỳ), khi Đức Giám mục F. William Medley, ngày 18 tháng 5, cấm cha David Kennedy cử hành Thánh lễ theo nghi lễ Latinh truyền thống, với lý do thi hành những chỉ dẫn trước đó của Tòa thánh.
Những trường hợp như thế đang diễn ra tại nhiều quốc gia và khu vực khác nhau. Cần nhắc lại rằng Tự sắc Summorum Pontificum của Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, ban hành năm 2007, đã nhìn nhận Sách lễ Rôma năm 1962 là “hình thức ngoại thường” của Nghi lễ Rôma, đồng thời cho phép mọi linh mục được tự do cử hành theo Sách lễ này mà không cần phải xin phép đặc biệt từ giám mục giáo phận. Văn kiện ấy không xem phụng vụ truyền thống như một di tích của quá khứ, nhưng như một diễn đạt sống động của việc phụng tự trong Giáo hội, có khả năng làm phong phú toàn thể đời sống Giáo hội Công giáo.
Đến năm 2021, qua Tự sắc Traditionis Custodes, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã thay đổi cách tiếp cận này. Văn kiện xác định phụng vụ được canh tân theo sắc lệnh của Đức Thánh Giáo hoàng Phaolô VI sau Công đồng Vaticanô II là “cách diễn tả duy nhất” của Nghi lễ Rôma, đồng thời đặt việc cử hành theo nghi lễ cũ dưới sự quản lý chặt chẽ của giám mục giáo phận (đòi phải có sự cho phép minh nhiên và trong nhiều trường hợp chỉ được cử hành ngoài các nhà thờ giáo xứ).
Đằng sau hai văn kiện này là hai cách tiếp cận khác nhau về giáo hội học: một bên nhấn mạnh sự đa dạng phụng vụ trong hiệp nhất, bên kia nhấn mạnh sự thống nhất phụng vụ như một điều kiện của sự hiệp thông trong Giáo hội. Chiều kích đa dạng này đã được Công đồng Vaticanô II khẳng định qua lời mời gọi thích nghi phụng vụ trong Hiến chế Sacrosanctum Concilium (đặc biệt ở các số 28–40). Hơn nữa, ngày 27 tháng 5, Đức Thánh Cha Lêô cũng đã kêu gọi duy trì sự quân bình giữa việc gìn giữ truyền thống và việc cổ võ sự canh tân.
Tiếp tục điểm lại các sự kiện, vào ngày 05 tháng 6, Đức Tổng Giám mục của Tổng Giáo phận Detroit (Hoa Kỳ) đã ca ngợi một đền thờ Hồi giáo mới trong thành phố khi ngài phát biểu: “Không có nơi nào tôi cảm nhận được sự thiện hảo nhiều hơn ở đây.” Phát biểu của Tổng Giám mục Edward Weisenburger đã gây tranh luận vì dường như hàm ý rằng trong một nơi thờ phượng của người Hồi giáo, người ta có thể “cảm nhận cách trọn vẹn sự hiện diện của Thiên Chúa.”
Nhiều người cũng chú ý đến việc Đức Tổng Giám mục Edward Weisenburger tham dự lễ khánh thành ngôi đền Hồi giáo cũng như trụ sở của Viện Hồi giáo Hoa Kỳ. Tuy nhiên, khẳng định cho rằng người Hồi giáo và người Công giáo cùng thờ phượng một Thiên Chúa thì phải được hiểu như thế nào? Tuyên ngôn Nostra Aetate của Công đồng Vaticanô II, được các Nghị phụ Công đồng phê chuẩn và Đức Thánh Giáo hoàng Phaolô VI công bố ngày 28 tháng 10 năm 1965, đã khẳng định: “Giáo hội cũng trân trọng các tín hữu Hồi giáo, những người tôn thờ Thiên Chúa duy nhất, hằng sống, tự hữu, giàu lòng thương xót và toàn năng, Đấng tạo thành trời đất, Đấng đã phán dạy con người (…). Mặc dù họ không nhìn nhận Đức Giêsu là Thiên Chúa, nhưng họ tôn kính Người như một vị ngôn sứ; họ cũng tôn kính Đức Trinh nữ Maria, Thân mẫu của Người, và đôi khi còn sốt sắng cầu khẩn Mẹ.”
Người Hồi giáo không tin vào mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi và cũng không tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa. Tuy nhiên, họ vẫn thờ phượng Thiên Chúa duy nhất. Chính điều này tạo nên một mối dây liên kết, giúp hai bên xích lại gần nhau trong việc nuôi dưỡng đức tin vào Thiên Chúa cũng như trong việc thực thi đức bác ái – một nhân đức được đặc biệt đề cao trong Hồi giáo – khi Giáo hội và các tín hữu Hồi giáo cùng cộng tác trong một thế giới ngày càng tục hóa đang bao quanh tất cả chúng ta. Mặc dù như thế, nếu không được giải thích cách đầy đủ, những phát biểu như vậy rất dễ gây nên sự hoang mang nơi các tín hữu.
Xu hướng tục hóa các không gian thánh thiêng được thể hiện rõ nét qua việc lắp đặt các màn hình TV để theo dõi các trận đấu World Cup ngay bên trong nhà thờ Thánh Antôn ở Madrid (Tây Ban Nha), hoặc qua việc tổ chức cho mọi người quy tụ tại Nhà thờ Chính tòa Innsbruck (Áo), để dùng bữa với món mì pasta và giao lưu với nhau quanh một chiếc bàn dài được đặt đối diện bàn thờ.
Một trường hợp tương tự cũng xảy ra với một đoàn hành hương do một linh mục thuộc Huynh đoàn Linh mục Thánh Phêrô đồng hành. Vị linh mục này đã không được phép cử hành Thánh lễ bằng tiếng Latinh tại ba thành phố khác nhau của Ý, khiến cả đoàn phải tham dự Thánh lễ trong tầng hầm của một khách sạn ở San Giovanni Rotondo. Các linh mục của Huynh đoàn Linh mục Thánh Phêrô là những vị được Tòa Thánh chính thức nhìn nhận.
Nếu hôm nay Đức Kitô bước vào Đền thờ, liệu Người có xô đổ những màn hình TV ấy không? Hay Người sẽ chấp nhận tình trạng đó chỉ vì Nhà tạm tại nhà thờ giáo xứ Thánh Antôn ở Madrid đã được che lại bằng một tấm màn đỏ?
Ranh giới giữa điều thánh thiêng và điều trần tục đòi hỏi người Kitô hữu phải sống chứng tá mạnh mẽ hơn giữa lòng thế giới. Đức Thánh cha Lêô XIV cũng đã nhắc lại một lời nổi tiếng của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II từ năm 1975: “Không gì cần thiết hơn cho một thế giới ngày càng tục hóa bằng chứng tá của sự canh tân thiêng liêng này.” Thật ra, mục tiêu đưa những người đang sống xa cách đến gần với Tin mừng hơn dường như không thể đạt được bằng việc làm phai nhạt tính thánh thiêng của các nơi thờ phượng.
Liên quan đến mục vụ của Giáo hội dành cho những người thuộc cộng đồng LGBTI, cần nhắc lại bài giảng của Đức Hồng y Robert McElroy tại Đại học Georgetown ngày 20 tháng 6. Trong bài giảng này, ngài nhận định rằng triều đại giáo hoàng của Đức Thánh cha Lêô XIV đang mở ra những dấu chỉ của “niềm hy vọng lớn lao” đối với mục vụ của Giáo hội dành cho các tín hữu LGBTI. Theo ngài, điều đó được thể hiện qua sáng kiến mục vụ “Outreach”, một chương trình do cha Dòng Tên James Martin khởi xướng. Một số ý kiến phê bình cho rằng phát biểu này không phù hợp với giáo huấn của Giáo hội và dường như gán cho Đức Thánh Cha những lập trường hoặc kỳ vọng mà chính ngài chưa từng bày tỏ.
Dường như Đức Tổng Giám mục Washington đã làm giảm nhẹ lập trường của Đức Thánh cha Lêô về luân lý tính dục khi giới thiệu một tài liệu của Vatican, trong đó đề nghị một cách tiếp cận mang tính mục vụ hơn đối với các tín hữu có khuynh hướng đồng tính. Đức Tổng Giám mục phát biểu: “Trong một Giáo hội mà cộng đồng LGBT nhiều lần đã cảm thấy bị tổn thương bởi những phán xét và sự loại trừ, chúng ta có lý do để nuôi dưỡng niềm hy vọng lớn lao trước hai diễn biến quan trọng đã diễn ra trong triều đại giáo hoàng của Đức Thánh cha Lêô; đó là những hạt giống màu mỡ cho sự thăng tiến của Tin mừng trong những năm sắp tới.”
Cũng theo chiều hướng ấy – khi suy tư về điều được xem là giảm nhẹ lập trường đối với tính chất trái luân lý của các hành vi đồng tính – người ta cũng chú ý đến một sáng kiến của Tổng Giáo phận Firenze (Ý): một dự án nhà ở dành cho những người trẻ từ 18 đến 35 tuổi tự nhận mình thuộc cộng đồng LGBTI, được tài trợ từ phần ngân sách thuế mà người dân Ý dành cho Giáo hội Công giáo. Caritas Firenze triển khai dự án mang tên Casa Andrea, cung cấp nơi lưu trú và dịch vụ tư vấn cho những người trưởng thành thuộc cộng đồng LGBTI trong độ tuổi từ 18 đến 35.
Cha Andrea Bigalli giải thích về sáng kiến này như sau: “Mục tiêu của chúng tôi là tạo ra một không gian đối thoại, lắng nghe và hỗ trợ cụ thể, để những người trẻ thuộc cộng đồng LGBTI có thể bình an xây dựng hành trình cuộc sống của mình, tránh rơi vào tình trạng cô lập và bị phân biệt đối xử.” Lời giải thích này có thể được hiểu như một hình thức đồng hành mục vụ với những người có khuynh hướng đồng tính, hoặc cũng có thể bị xem là đi ngược lại giáo huấn luân lý của Giáo hội, tùy theo cách người ta nhìn nhận về mục đích và bản chất của cơ sở lưu trú này. Dù được nhìn dưới góc độ nào, việc sử dụng nguồn tài chính do toàn thể các tín hữu Công giáo đóng góp cho một sáng kiến mang tính chuyên biệt như vậy vẫn là một vấn đề gây nhiều tranh luận.
Đức Thánh cha Lêô XIV đã khẳng định rõ rằng ngài không dự liệu sẽ có bất kỳ thay đổi nào đối với lập trường chính thức của Giáo hội Công giáo liên quan đến những người thuộc cộng đồng LGBTI. Ngài nói: “Đức Phanxicô đã diễn tả điều đó rất rõ khi nói: ‘Tất cả, tất cả, tất cả mọi người’ (…). Tôi cho rằng rất khó có khả năng – ít nhất là trong tương lai gần – giáo huấn của Giáo hội về luân lý tính dục và hôn nhân sẽ thay đổi.” Trong cùng cuộc phỏng vấn với nữ ký giả người Mỹ Elise Ann Allen vào tháng 7 năm 2025, ngài cũng khẳng định: “Gia đình được hình thành bởi người cha, người mẹ và con cái.”
Liên quan đến vai trò của phụ nữ trong Giáo hội, một đề xuất của Đức Tổng Giám mục Erio Castellucci (Ý) đáng được chú ý. Ngài viện dẫn chứng tá của Thánh Maria Mađalêna về biến cố Chúa Giêsu Phục sinh để biện minh cho việc phụ nữ công bố Tin mừng và giảng trong Thánh lễ.
Theo Bản tin ngày 24 tháng 5 của Giáo phận Modena–Nonantola, trong một hội nghị được tổ chức tại Carpi do Trung tâm Phụ nữ Ý (Centro Italiano Femminile) bảo trợ, Đức Tổng Giám mục Castellucci đã đề nghị để phụ nữ “đồng chủ sự” phần Phụng vụ Lời Chúa, trong khi linh mục chủ sự phần Phụng vụ Thánh Thể và truyền phép.
Trong khi đó, lập trường của Đức Thánh Cha Lêô cũng đã được thể hiện rõ trong cuộc phỏng vấn với nữ ký giả Elise Ann Allen. Ngài nhấn mạnh rằng vấn đề trao cho phụ nữ những vị trí lãnh đạo trong Giáo hội phải luôn trung thành với giáo huấn của Giáo hội. Khi được hỏi về khả năng truyền chức phó tế cho phụ nữ, ngài khẳng định: “Tôi không có ý định thay đổi giáo huấn của Giáo hội.”
Hay những diễn biến như những phát biểu gần đây của Đức Giám mục Würtz – vị giám mục người Đức mới được Đức Thánh Cha bổ nhiệm – khi ngài đặt câu hỏi: “Nếu bãi bỏ luật độc thân bắt buộc đối với các linh mục, chúng ta sẽ mất gì và sẽ được gì?” Điều này cho thấy cuộc tranh luận về luật độc thân bắt buộc của các linh mục vẫn đang tiếp diễn trong Giáo hội. Vị Giám mục người Đức nhấn mạnh rằng bất kỳ sự thay đổi nào đối với kỷ luật này đều cần được cân nhắc hết sức thận trọng, trên cơ sở xem xét cả những điều có thể bị đánh mất lẫn những lợi ích mà sự thay đổi ấy có thể mang lại.
Trước những cuộc tranh luận như vậy, Đức Thánh cha Lêô đã tái khẳng định lập trường của mình trong hai bài diễn văn – một gửi các chủng sinh Ý và một gửi hơn 400 giám mục cùng hồng y quy tụ tại Vatican nhân Năm Thánh dành cho các linh mục. Ngài nhấn mạnh: “Đời sống độc thân là một đặc sủng cần được nhìn nhận, gìn giữ và nuôi dưỡng.”
Vì sao lại có quá nhiều tranh luận xoay quanh những vấn đề then chốt trong đời sống nội bộ của Giáo hội? Phải chăng Giáo hội đang bị chia rẽ và xung đột, hay chỉ là những tiếng ồn ào đang lấn át sự bình an? Đức Thánh Cha có đang nghiêng về một khuynh hướng này và làm lu mờ khuynh hướng kia hay không? Để trả lời những câu hỏi ấy, có ba điểm cần làm sáng tỏ nhằm hiểu đúng thực trạng của Giáo hội ngày nay.
Thứ nhất, truyền thông thường có xu hướng tập trung đưa tin về những sự kiện hoặc hiện tượng mang tính cực đoan, gây chú ý, dù đó chỉ là những trường hợp cá biệt, thiểu số; trong khi lại im lặng hoặc ít đề cập đến lập trường thực sự của Huấn quyền đang hướng dẫn toàn thể Giáo hội cũng như của đại đa số các tín hữu.
Thứ hai, ở bất cứ thời đại nào cũng luôn và sẽ có những cá nhân hoặc những nhóm nhỏ cổ võ những quan điểm thiếu cơ sở. Những đề xuất ấy không phản ánh tính phổ quát của Giáo hội Công giáo; chúng chỉ thu hút sự chú ý vì tính mới lạ, nhưng rồi cũng nhanh chóng rơi vào quên lãng. Sự mới lạ vốn chỉ tồn tại trong chốc lát.
Và thứ ba, còn có vấn đề về cách lựa chọn thông tin, tức là một số sự kiện hoặc biến cố được nhấn mạnh và diễn giải theo một hướng nhất định, trong khi nhiều yếu tố đóng góp tích cực khác lại không được đề cập. Vì thế, những tranh luận liên quan đến một số ít giám mục thường được khuếch đại, trong khi hầu như không ai nói đến hàng ngàn vị đang âm thầm thi hành sứ vụ giữa những cánh rừng châu Phi, những vùng núi hẻo lánh của Nam Mỹ hay những đồng bằng rộng lớn của châu Á. Người ta cũng ít biết đến biết bao linh mục và giáo dân đang nỗ lực phục vụ tại hàng chục nhà nguyện thuộc một giáo xứ giữa những khu rừng của Canada, hoặc tận tụy chăm sóc người đau yếu và các phạm nhân tại những thị trấn nhỏ ở châu Âu. Giáo hội đang âm thầm thực hiện biết bao điều thiện hảo mà ít được biết đến, và chúng ta vui mừng khi được ghi nhận những điều ấy.
Tuy nhiên, rõ ràng là những hành động và phát biểu dễ dẫn đến những cách hiểu khác nhau này không góp phần củng cố sự hiệp nhất mà Đức Thánh cha Lêô đang cổ võ; trái lại, chúng có nguy cơ tạo thêm thuận lợi cho những xu hướng đối lập trong bối cảnh phân cực tiếp tục khai thác các sự kiện và phát biểu ấy để làm gia tăng xung đột.
Tác giả: Rafael Llanes
Nguồn: zenit.org
TAGS: