Làm Thế Nào Sống Thiên Chức Linh Mục Ngày Nay?
Lời Nhà xuất bản
Cuốn sách nhỏ mà quý vị có trong tay không phải là một khảo luận linh đạo linh mục, cũng không phải là toàn thể những chuẩn mực mục vụ. Thế nhưng nó muốn đề nghị cách hùng hồn và đơn giản, nhưng không ngây thơ, những đường hướng cho các linh mục.
Hai tác giả của tập sách, thành viên của Hội Đồng Giám Mục Đức, khi viết nó, đã hoàn toàn ý thức rằng họ nói những ưu tiên này trước tiên cho chính họ và chúng cũng có thể liên quan đến nhiều người khác, bên kia các đồng sự Outre-Rhin (1) của họ. Từ đó nảy sinh quyết định của Nhà xuất bản Nouvelle Cité xuất bản bản văn này theo lời đề nghị của một linh mục người Pháp.
Tuy nhiên cần phải báo hiệu rằng giữa quyết định này và sự ra đời của tập sách bằng tiếng Pháp, một trong hai tác giả, Đức cha Klaus Hemmerle, đã qua đời đầu năm 1994. Ngài là Giám mục ở Aix-la-Chapelle từ năm 1975 đến 1994. Ngài đã lưu dấu Giáo hội Đức và tất cả những ai kề cận ngài trên bình diện quốc tế, bằng đời sống tâm linh tỏa sáng cũng như bằng nền thần học chặt chẽ của ngài. Tất cả những ai đã biết ngài và đã đọc hay sẽ đọc tập sách này sẽ nhận ra ở đó cách dễ dàng những gì đã làm nên trung tâm của đời sống của Đức cha Klaus Hemmerle.
Vào dịp đám tang của ngài, Đức cha Karl Lehmann, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Đức, đã tóm tắt những nét lớn mà Đức Giám mục giáo phận Aix-la-Chapelle đã trung thành trong suốt đời của ngài như sau : « Trước tiên, ngài đã làm việc bằng cách ban tặng kinh nghiệm tâm linh của ngài qua chứng tá của Lời Chúa chứ không phải bằng vào sự ủy nhiệm pháp lý hay lề luật. Đó là lý do tại sao ngài đã đặc biệt tha thiết dẫn đưa giáo phận đến sự hiệp thông theo cách luôn luôn mới mẻ và do đó, tôn trọng tính đặc thù của nhân cách của mỗi người […]. Có lẽ – và cách cá nhân, tôi chắn chắn điều đó – nơi Đức cha Klaus Hemmerle, một linh mục và Giám mục, đã là một vị thánh, đã sống giữa chúng ta, mà hầu như chúng ta không nhận thấy điều đó. »
————————————————–
(1) Outre-Rhin (bên kia sông Rhin) là kiểu nói của người Pháp ám chỉ nước Đức nơi có con sông Rhin đánh dấu biên giới giữa Pháp và Đức (chú thích của người dịch).
Lời nói đầu
Các Giám mục phải có ưu tư đầu tiên là chăm lo cho các linh mục. Giám mục trước tiên là Giám mục cho các linh mục, và ngài chỉ có thể như thế khi trở nên linh mục với các linh mục của mình. Xác tín này đã thúc đẩy Hội Đồng Giám Mục Đức, trong thời gian diễn ra cuộc họp khoáng đại mùa Thu của mình ở Fulda từ ngày 21 đến 24 tháng 9 năm 1981, dành ra cả một ngày suy tư cho câu hỏi sau: làm thế nào, ngày nay, theo quan điểm tâm linh, các linh mục có thể sống hoàn cảnh của họ ? Đâu là những mục đích và tiêu chí, nhưng cũng những con đường nào và những khả năng nào được đề nghị cho họ để sống thiên chức linh mục cách khả tín trong một môi trường làm cho thừa tác vụ của họ thường rất nặng nhọc để gánh vác ?
Những suy tư sau đây lấy lại toàn bộ những suy tư được phát biểu lúc diễn ra ngày họp của Hội Đồng Giám Mục. Cần nhấn mạnh rằng nó chỉ hệ tại những suy tư. Trước tiên, với óc rất thực tế, các Giám mục đã thử quan sát đồng thời hoàn cảnh của linh mục và của thừa tác vụ của họ như nó cho thấy. Đứng trước điều này, như là tương phản, có một tiểu luận định hướng thiêng liêng và thần học đã được đối chiếu : ngày nay làm thế nào gìn giữ hay tìm lại được căn tính linh mục ? Khởi đi từ những văn kiện chuẩn bị của Hội Đồng Giám Mục « Các ơn gọi tu trì và các thừa tác vụ Giáo hội », hai đồng tác giả đã trình bày những suy nghĩ của mình nơi các bản văn sau đây, với lời đề nghị vượt qua khuôn khổ của Hội Đồng Giám Mục.
Rõ ràng đối với các tác giả cũng như đối với Hội Đồng Giám Mục, những định hướng sau đây liên quan đến cuộc sống và thừa tác vụ của linh mục, tạo nên phần đóng góp, nhưng là phần đóng góp có giới hạn. Nếu chúng được chấp nhận và được lưu tâm như thế, thì như vậy, chúng có thể trợ giúp cho sự hoán cải cần thiết và liên lỉ này, mà không có nó, hoạt động và cuộc sống của linh mục sẽ bị sa lầy. Vì thế, sẽ hữu ích nếu mỗi linh mục tự đặt cho mình câu hỏi : đối với tôi, có thể hình dung và hiểu cuộc sống của tôi về phương diện này không ? Tại sao và dựa vào điểm nào tôi không thể chấp nhận những « mục tiêu » như thế ? Dựa vào điểm nào tôi nhận ra nơi chính mình những căng thẳng hay những chống đối ? Các bản văn sau đây muốn thúc đẩy chúng ta đến một sự suy tư như thế.
Bởi thế, chúng không muốn là :
– một linh đạo được áp đặt từ trên cao ; một linh đạo linh mục không thể tăng trưởng bên ngoài sự hiệp thông ; những sắc lệnh hay một quy chế nào đó không bảo đảm việc thực thi nó.
– việc xây dựng có hệ thống một linh đạo linh mục ; vô số các hình thức của đời sống thiêng liêng, những gia tăng rõ nét đa dạng nhất là một sự phong phú mà người ta không có quyền san bằng.
– một cái cớ để tránh né những thay đổi cơ cấu, những thay đổi cần thiết để « khuôn mẫu » linh mục không còn là một lời khấn đạo đức ; trong suốt ngày nghiên cứu này, Hội Đồng Giám Mục đã quan tâm đến vấn đề những hệ quả thực tiễn.
– một lời cổ vũ khích lệ mà các Giám mục sẽ làm cho những người khác, thay vì là những người can dự đầu tiên. Điều đó dường như rất rõ ràng : nếu những gì được làm rõ ở đây như là tiêu chí, là thật, thì các Giám mục cũng phải cảm nhận điều đó cách đau xót trong cuộc sống của họ và do đó thúc đẩy đến sự hoán cải.
Bonn và Aix-la-Chapelle, tháng Tư năm 1982.
Wilhelm BREUNING
và Klaus HEMMERLE
I. Cách sống của tôi với tư cách là linh mục thì quan trọng hơn tất cả những gì tôi làm với tư cách là linh mục.
Nhắc đến Đức Gioan XXIII, người ta kể lại câu chuyện rất bổ ích này : có một vấn đề làm cho ngài ngài băn khoăn day dứt và ngài đã mơ nhận được chỉ thị sau : « Gioan, đừng cho mình là quan trọng như vậy ! ». Câu chuyện này có thật hay không thì không quan trọng : nhưng đó là một trong những ví dụ cho thấy một sự dị ứng đối với những ý tưởng quá mức mà người ta có về con người và bổn phận của mình, sự dị ứng mà chúng ta hiểu rõ và có âm vang mạnh mẽ nơi các đồng nghiệp. Chúng ta cũng phản ứng đối với những lời nói liên quan đến chức linh mục vốn có vẻ thái quá đối với chúng ta, theo quan điểm nhân loại.
« Cách sống của tôi với tư cách là linh mục thì quan trọng hơn tất cả những gì tôi làm với tư cách là linh mục » : lời khẳng định này có thể được cảm nhận như chỉ là một sự hiển nhiên đối lại với sự kiện tự cho mình quá quan trọng. Nhưng người nào bị tổn thương nơi chính mình cũng có thể khiếp sợ bởi lời khẳng định này. « Cách sống của tôi… » ? Phải chăng chẳng có ở đó một sự vơ lấy lại hoàn toàn con người của tôi ?
Về chính điểm này, đối với linh mục, việc phân định thần loại trở nên điều kiện tiên khởi : « Cách sống của tôi » không phải là chương trình thể hiện chính mình, nhưng « với Chúa Kitô, tôi chịu đóng đinh. Tôi sống, nhưng không còn là tôi nữa, chính Chúa Kitô sống trong tôi… » (Gl 2, 19).
« Cách sống của tôi… » : đó là những gì có thể giúp tôi tìm thấy mối quan hệ với chính mình rất đơn giản, khiêm tốn, đứng đắn. Nhưng tôi không có quyền chạy trốn nơi mà tôi đã được chiếm lấy, « nắm lấy », như Heinz Schürmann thể hiện trong cuốn « Trouver le cœur de ma vie » (« Tìm thấy trung tâm của đời tôi » (Định hướng cho các ơn gọi linh mục, Fribourg, 1979, tr. 31)), bởi Đấng mà chẳng có lời nào là quá mạnh mẽ đối với Người. Schürmann xem việc « được Chúa Kitô nắm lấy » này như là một lối diễn tả được thực hiện thực sự đối với thánh Phaolô khi ý thức mình là nô lệ của Chúa Kitô, chứ không chỉ là tôi tớ ! Xem mình như là nô lệ của Chúa Kitô chắc chắn cũng thuộc về tình bạn với Chúa Kitô, nếu nó muốn được sống cách trung thực.
Theo nghĩa này : « Cách sống của tôi với tư cách là linh mục thì quan trọng hơn tất cả những gì tôi làm với tư cách là linh mục ».
Nhưng điều đó chính xác không ? Chức linh mục không phải là việc phục vụ tha nhân sao? Nơi lời khẳng định này, chẳng phải là thiên chức này đã bị lệch huớng khỏi mục đích của nó đến độ trở thành một phương tiện thánh hóa bản thân ? Vả lại, sự thánh thiện của tôi, chứng tá của bản thân tôi, phải chăng chúng sẽ hữu hiệu hơn những gì được giao phó cho tôi nơi Lời Chúa và Bí Tích ? Trước hết, phải chăng nó không hệ tại trước tiên thực thi bổn phận của tôi ; và cuối cùng, chẳng phải là chúng ta hết thảy đều là tội nhân sao ? Chắc chắn, chúng ta là như vậy. Nhưng Chúa Kitô trong tôi, xuyên qua tôi, bên trên chính tôi – chúng ta sẽ sớm quay lại điều này – đó là những gì quan trọng hơn chứng tá của tôi và hơn cuộc sống của tôi. Vì những gì Chúa Kitô nói và làm, những gì tôi phải truyền đạt về chính Người, đúng là Sự Sống, Sự Sống của Người. Và cái « thêm sự sống » này chỉ trở nên khả tín khi Người nắm lấy sự sống, sinh ra sự sống, thông truyền sự sống ; và do đó, tôi là người liên hệ đầu tiên nhất. Điều đó chẳng giảm thiểu chút nào sự căng thẳng giữa sự nghèo nàn của tôi và sứ mạng của tôi, hoàn toàn trái lại là khác. Nhưng nếu tôi chấp nhận sống trong sự căng thẳng này và tôi không ngừng dâng nó cho Người, thì như thế chính sự nghèo nàn của tôi có thể trở nên chứng tá, có thể được biến đổi từ bên trong, như chúng ta ghi nhận điều đó nơi đời sống của thánh Phaolô. Là Kitô hữu – cũng như là linh mục – đó là sống cho tha nhân. Nhưng Chúa Kitô sống cho tha nhân bởi vì Người lãnh nhận chính mình hoàn toàn từ Cha, bởi vì ngài phát xuất từ Cha. Như thế, không có con đường khả thể nào khác : chúng ta phải tồn tại « từ Chúa Giêsu ». Bạn có muốn là tia sáng mặt trời trong thế gian này không ? Vậy thì hãy bước vào trong chính mặt trời. « Và Người đã thiết lập nhóm 12 để ở với Người và để sai họ đi rao giảng… » (Mc 3, 14). Thế đó, chuyển động luôn luôn mới mẻ của cuộc sống : ở với Người để được Người sai đi.
Cụ thể, linh mục cần thời gian để « ở », thời gian cho việc cầu nguyện, cho việc đối thoại, cho việc sám hối, cho việc xưng tội. Họ cần thời gian để suy nghĩ về Thiên Chúa, về chính mình và về tha nhân. Nếu không họ sẽ trở thành một « chuyên viên kỹ thuật mục vụ ». Càng phải làm việc, chúng ta càng cần thời gian dành cho Người. Thời gian dành cho Người là thời gian dành cho tha nhân. Những ai cần phải cho đi nhiều nước thì cần phải ở bên nguồn nước lâu hơn nữa. Đó là những gì thường tạo ra căng thẳng và áp lực, nhưng đó là con đường duy nhất để thực sự sống cho tha nhân và trao ban cho họ chính Chúa Kitô.
II. Những gì Chúa Kitô thực hiện nơi tôi thì quan trọng hơn những gì chính tôi làm.
Đó là hệ quả tức thời của ưu tiên thứ nhất. Việc làm nổi bật này cần xem xét trong mối liên hệ với sự trổi vuợt của đức tin trong đời sống của linh mục : đức tin như là mô thể của cuộc sống là một sự sẵn sàng mở ra (béance), nó biến linh mục, với tất cả những gì họ là và không phải là, thành một « hữu thể trống rỗng » (être en creux). Sự kiện agere in persona Christi – hành động nhân danh Chúa Kitô, chẳng hạn như khi linh mục nói « Này là Mình Ta » – trong việc trình bày về các Bí tích của chúng ta, có ý nghĩa về một quyền năng tròn đầy mà không có người nào sở hữu bởi chính mình. Hệ quả hiện sinh của việc « hành động nhân danh Chúa Kitô » đó đưa đến chính sự sẵn sàng mở ra này, đến hữu thể trống rỗng mà không có nghĩa là hòa tan hay thiếu ý nghĩa trong việc dấn thân bản thân, nhưng là một sự hiện hữu xét như là sẵn sàng ứng trực : « Con có yêu mến Thầy không ? – Thầy biết rằng con yêu mến Thầy » (Ga 21, 15-17). Đó cũng là một sự sẵn sàng ứng trực cho Chúa không ngừng được đổi mới bất chấp những khiếm khuyết của bản thân.
Đó là lý do tại sao : những gì Chúa Kitô thực hiện nơi tôi thì quan trọng hơn những gì chính tôi làm.
Nhưng điều đó chính xác không ? Chẳng phải là nguy hiểm khi phân ly hành động của Người khỏi hành động của tôi ? Có thể tách rời chúng không ? Người đang hành động trong tôi và tôi hành động bởi chính mình ? Vậy thì trong lịch sử của chúng ta, trong hoàn cảnh hiện nay của chúng ta, phải chăng Người có đôi bàn tay khác với đôi bàn tay của tôi, với đôi bàn tay của chúng ta ? Tin Mừng chẳng phải là đã được ban cho chúng ta như là mục đích, động cơ và sức mạnh, đến độ chúng ta chỉ còn việc vận dụng bằng tất cả trí khôn và tất cả sức lực của chúng ta ? Không ngừng và trực tiếp quy chiếu về Đức Kitô và nhất là về Chúa Kitô trong chúng ta : đó chẳng phải thuộc về thần bí sao ?
Phản đối : nếu chúng ta bảo lưu sự kiện rằng chỉ duy công việc của chúng ta, duy hành động của chúng ta mang lại tính hữu hiệu « hoạt động » của Chúa Kitô, thì như thế hệ quả duy nhất sẽ là một sự căng thẳng liên lỉ. Và, tự sâu xa, sẽ là như thế, cho dầu chúng ta đông hơn nhiều và cho dầu chúng ta làm nhiều hơn nữa. Để thực thi ý muốn của Thiên Chúa cứu độ tất cả mọi người, chúng ta sẽ không bao giờ có đủ khả năng thực hiện một kế hoạch như thế – và chúng ta sẽ không bao giờ có thể đạt đến tất cả mọi người; và thậm chí những người mà chúng ta sẽ đạt tới, thì đó sẽ không bao giờ ở chiều sâu thẳm này mà Chúa Kitô muốn chạm đến họ. Nhiệt huyết đối với mọi người, nhiệt huyết đối với toàn bộ chắc chắn phải đánh động chúng ta. Nó có thể và phải thiêu đốt chúng ta, nó có thể và phải đòi hỏi mọi sự từ chúng ta. Tất cả ! Không phải trong sự bực bội và lo âu, nhưng trong sự tin tưởng và trong sự bình thản qua đó Người có thể chiếu sáng. Bởi vì hoàn toàn đơn giản Người có thể làm hơn chúng ta. Và chúng ta phải là những dấu chỉ về điều đó : Người có thể làm hơn chúng ta có thể làm. Luôn luôn chúng ta làm quá ít ỏi và chúng ta sẽ không bao giờ có thể gỡ lại điều đó. Nhưng cái « quá ít ỏi » này mà chúng ta là, trở thành tấm kính mà ánh sáng của Người xuyên qua. Chấp nhận những giới hạn của mình và biết rằng khi chấp nhận chúng, Người vượt qua chúng và vượt lên trên. Làm tất cả – biết rằng còn quá ít – nhưng, trong sự tin tưởng, bằng cách phó dâng chúng cho Người : như thế chúng ta trở nên những chứng nhân cho Người.
Vả lại, chắc chắn chỉ như thế chúng ta mới tìm thấy sức mạnh không bị cạn kiệt trong việc phục vụ thuần túy hình thức loan báo Lời Chúa và phân phát các Bí tích ; chúng ta đầu tư hoàn toàn – như chúng ta là – trong những gì chúng ta làm. Nhưng đồng thời trong sự tin tưởng rằng Người tự hiến hoàn toàn trong Lời của Người và trong Tác Động bí tích của Người, chúng ta sẽ tìm thấy sức mạnh thực thi một thừa tác vụ « khách quan » (theo nghĩa tích cực của từ ngữ), không bực bội tìm cách luân lý hóa, thuyết phục và muốn gây ứng tượng.
Vì thế chúng ta khẳng định : những gì Chúa Kitô thực hiện nơi tôi thì quan trọng hơn những gì chính tôi làm.
III. Sống sự hiệp nhất trong linh mục đoàn thì quan trọng hơn là để bị ngập chìm một mình bởi công việc của tôi.
« Tình bạn với Chúa Giêsu có hoa trái và hệ quả là tình bạn giữa chúng ta ». « Ai là bạn của Chúa Kitô thì không thể bỏ sang một bên sứ mạng của Giám mục »… (x. Jean-Paul II en Allemagne, Textes du Saint-Siège, Bonn, 1980, p.III). Hai tư tưởng liên kết chặt chẽ với nhau này được rút ra từ bài giảng của Đức Gioan Phaolô II dành cho các linh mục vào tháng 11 năm 1980 ở Fulda. Đối với chúng ta là những linh mục, đừng hiểu câu thứ hai trong ý nghĩa của một quy tắc kỷ luật, nhưng nắm bắt mối liên hệ thân mật của nó với tình bạn của Chúa Kitô là rất quan trọng.
« Vậy ai là tha nhân của tôi ? », viên thông luật hỏi Chúa Giêsu, khi Người vừa nói về tình yêu tha nhân. « Vậy Giáo hội ở đâu ? », nhiều người trong chúng ta tự hỏi. Cách có lý, họ tìm kiếm Giáo hội hoàn toàn gần bên họ, hoàn toàn như Chúa Giêsu đã đặt tha nhân trong môi trường tức thời của chúng ta. Người này hay người kia như thế có thể quay hướng duy nhất về cộng đoàn được giao phó cho mình và nói : « Đây, Giáo hội gần tôi nhất ». Đúng vậy ! Và những gì tiếp theo không có nghĩa rằng sẽ có một Giáo hội của các giáo sĩ ở đó, một cộng đoàn đặc biệt của những người bạn của Chúa Kitô. Nhưng sự hiệp thông với các anh em linh mục và với Giám mục cũng thuộc về Giáo hội, Giáo hội mà chúng ta sống cách trực tiếp và cụ thể. Không có sự hiệp thông của các linh mục, các cộng đoàn của chúng ta không thể trở nên « hiệp thông » ; nếu chúng ta không được sinh ra bởi « sự hiệp thông » và không bén rễ sâu trong nó, thì chẳng có sự hiệp thông nào sẽ có thể nảy sinh và tăng trưởng từ thừa tác vụ của chúng ta.
Công việc của riêng tôi vẫn là một ý tưởng thuần túy và vẫn là một kế hoạch cá nhân bao lâu nó không múc lấy nguồn mạch của nó trong Giáo hội như là thực tại sống động nơi tôi được sáp nhập. Đôi khi Giáo hội có vẻ như là một thực tại kháng cự, nhưng chính như thế mà Giáo hội dẫn đến chân lý, một chân lý giải thoát. Chỉ với những ý tưởng của tôi, tôi không thể kinh nghiệm về cuộc sống. Cùng với những người khác, thì tôi có thể. Nhưng tôi sẽ không chỉ tìm kiếm những người có cùng tần số như tôi. Giáo hội được làm nên bởi các anh em linh mục của tôi và bởi Giám mục của tôi ngăn không cho tôi xem Giáo hội như là một vấn đề sở thích, phong cách, chọn lựa.
Đó là lý do tại sao sống sự hiệp nhất trong linh mục đoàn thì quan trọng hơn là để bị ngập chìm một mình bởi công việc của tôi.
Nhưng một lần nữa điều đó có chính xác không ? Chắc chắn đó là một sự tiến bộ lớn lao khi ngày nay chúng ta đã từ bỏ sự chẻ đôi nguy hại giữa những người « thực thi Ơn cứu độ » và những người « tiêu thụ Ơn cứu độ », những Kitô hữu chủ động – hiểu là các linh mục – và những Kitô hữu thụ động. Vâng, Giáo hội, và mỗi hội đồng, là một cộng đoàn với những hồng ân Thánh Thần khác nhau, những công việc phục vụ khác nhau mà người này cần đến người kia, người này bổ túc cho người kia. Nhưng sẽ là có một tầm nhìn hẹp hòi nếu xem linh mục như là người được ký thác nhiều chức năng, cho dù cách thức định nghĩa và sai phái họ như thế nào. Qua việc truyền chức linh mục của mình, có thể nói họ đến từ nhóm 12 đã ăn uống với Chúa Giêsu và đã dẫn vào trong lịch sử sự hiệp nhất mà Chúa Giêsu đã thiết lập nền móng bằng việc trao ban trọn vẹn chính mình cho mọi nguời và Người đã để lại việc tưởng nhớ trường tồn nơi Bí tích Thánh Thể. Công việc phục vụ của linh mục sẽ phải tiếp tục và hiện tại hóa những gì đã diễn ra vào bữa Tiệc Ly này, việc thành lập dân mới của Thiên Chúa trong mầu nhiệm vượt qua. Và việc phục vụ này, không ngừng xây dựng và củng cố Giáo hội, không dừng lại với cái chết của các Tông đồ. Nó tiếp tục với các vị thừa kế các Tông đồ và với sự tham dự vào sứ mạng của các ngài qua việc truyền chức. Nhưng như thế là rõ ràng : là linh mục có mục đích cốt yếu xây dựng cộng đoàn, ngay từ bây giờ, trong mối hiệp thông với cội nguồn. Nhưng sự hiệp thông của linh mục với cội nguồn này – với hành vi thiết lập nền móng – không đơn giản là một mối liên hệ bản thân với Chúa Kitô. Linh mục đến từ Chúa Kitô, những xét như là ngài đến từ cộng đoàn của những người cùng trong một sứ mạng, trong cùng sự phục vụ hiệp thông như ngài.
Với tư cách là linh mục, cuộc sống của tôi do đó suy giảm đi (amoindrie) khi tôi đi ra cùng với những người sống và hành động trong cộng đoàn của tôi, nhưng điều đó không tiến triển cùng với các linh mục khác, với cộng đồng linh mục đoàn bên cạnh Giám mục. Chỉ cộng đoàn sinh ra cộng đoàn. Tôi cũng không thể xem phần việc « của tôi » như là một sự sở hữu cá nhân, cho dầu, tiếp theo đó, tôi đồng ý để chia sẻ rất huynh đệ phần việc này với người khác. Tôi ở trong một sứ mạng vốn phải luôn ở trong mối liên hệ với cộng đoàn của những người ở với Chúa và do đó được hiệp nhất để Người sai họ đi.
Đức Gioan Phaolô II luôn nói về tính hợp đoàn (collégialité) tình cảm và hiện thực của các Giám mục. Tính hợp đoàn này phải được nối dài trong tình huynh đệ tình cảm và hiện thực của các linh mục, trong tình huynh đệ cả thân tình và nhân bản lẫn cụ thể và linh hoạt. Điều này rất thường được chứng thực : thời gian mà một linh mục dành cho các anh em linh mục rốt cuộc là thời gian dành cho cộng đoàn, cho những người được giao phó cho họ.
IV. Phục vụ việc cầu nguyện và Lời Chúa thì quan trọng hơn việc phục vụ bàn ăn.
Một ưu tiên thường được lấy lại từ cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên (x. Cv 6, 1-7). Ý nghĩa sâu xa của nó là mọi chiều kích hàng ngang trong Giáo hội – cho dầu chiều kích này là một thực tại nền tảng và cần thiết của Giáo hội – trở nên nhạt nhẽo và vô dụng nếu không có chiều kích hàng dọc. Sự ưu tiên này không chỉ nhắm đến một sự phân chia tương xứng thời gian – thời gian cho việc cầu nguyện, thời gian cho « công việc » (và những việc khác !) – nhưng nhắm đến sự kiện rằng mọi công việc phải được thấm nhập bởi chiều dọc (vì nó hệ tại trước tiên đến hữu thể, con người toàn thể). Do đó, sẽ rất lo ngại nếu linh mục xem việc cử hành các Bí tích như là một nhiệm vụ mà con người của họ sẽ không được dấn thân cách độc đáo một tí nào. Sự hiểu sai này như thế có thể cho thấy nhiều ý tưởng lan truyền đây đó liên quan đến việc « hành động nhân danh Chúa Kitô ».
Ưu tiên cầu nguyện trên những bổn phận « chiều ngang » sẽ bị hiểu sai hơn về bản chất nếu chiều kích hàng dọc được dùng để đạt đến một kết quả tốt hơn. Nó hệ tại việc sống tự do cho vị Thiên Chúa, Đấng không chỉ là phương tiện cho ơn cứu độ thế gian, nhưng là siêu vượt tất cả, thế giới và chúng ta sống trong đó, đến độ chính Ngài nên ơn cứu độ của thế giới, ơn cứu độ cho hết mọi người.
Chính như thế mà cần phải hiểu và chấp nhận luận đề : phục vụ việc cầu nguyện và Lời Chúa thì quan trọng hơn việc phục vụ bàn ăn.
Đó không phải là hạ giá tác vụ phục vụ, việc phục vụ anh chị em so với chứng tá hay với phụng vụ, với việc loan báo Tin Mừng hay với việc phục vụ Bí tích. Đó cũng không phải nói rằng linh mục phải từ bỏ việc phục vụ và việc trợ giúp cụ thể người khác, rằng ngài không cần phải bẩn tay nơi cái thường ngày của cuộc sống.
Nhưng, bất chấp những làm sáng tỏ này, câu hỏi vẫn là : luận đề này có chính xác không ? Phải chăng một tình yêu đã trải qua không phải là chứng tá mà không có nó Lời Chúa và việc cầu nguyện là vô hiệu lực và bất khả tín sao? Nhất định rồi ! Nhưng xếp Lời Chúa và phụng vụ xuống hàng thứ hai, bởi vì Lời Chúa và phụng vụ hoạt động « cách tự động », và điều này vì lợi ích của các hoạt động thực tiễn, vốn mải miết trong vô số nhiệm vụ được đòi hỏi bởi tổ chức và việc quản trị, chạy trốn trong cảm giác hoàn toàn bị bận rộn với một lịch trình đầy ắp, điều đó không thể là giải pháp. Không phải nói rằng người ta đạt đến đó chỉ bằng sự tưởng tượng. Người nào đã dấn thân cách say mê cho Lời Chúa và việc cầu nguyện, phải chăng người ấy không thấy mình thường bị bó buộc trả lời cho lời kêu gọi của những khẩn cấp tức thời và hoàn toàn không thể dự kiến ? Thế nhưng, ở đâu những cuộc hẹn, cho dầu hữu ích và quan trọng đến mấy, dần dà lấn át Lời Chúa và việc cầu nguyện, thì ở đó tình yêu này, sức mạnh nhập thể đến từ sự hạ mình của Chúa Kitô này trong thân phận tôi tớ dần dần mờ nhạt đi, nơi những gì linh mục làm. Để tác vụ phục vụ của mình, để sự dấn thân cụ thể của mình vẫn là chứng tá tình yêu, cần phải, theo cách luôn nội tâm và mới mẻ, đắm chìm gốc rễ của sự hiện hữu và của thừa tác vụ của mình trong một cuộc sống được xây dựng trên Lời Chúa và trong sự kết hiệp với Chúa hằng sống. Chúng ta không thể dựng cho mình những căn lều trên núi Thabor. Nhưng, chúng ta không nên vì thế miễn cho mình khỏi leo lên sườn dốc của nó. Nếu không chúng ta cũng sẽ thiếu sức mạnh đi xuống và chúng ta sẽ bị lạc lỏng nơi đồng bằng.
V. Đồng hành thiêng liêng với những người cộng tác thì quan trọng hơn là chính mình và một mình làm tối đa công việc có thể.
Những ưu tiên được diễn tả sau đây lấy lại một số ví dụ các hoàn cảnh mà linh mục phải quyết định những gì mà họ phải làm bây giờ theo lương tâm và những gì họ có thể gác sang một bên : chắc chắn chúng ta hết thảy cần phải học biết suy nghĩ khác thực sự, khi đó là vấn đề về mối ưu tư thiêng liêng đối với những người cộng tác. Ở đây cũng có một sự khởi đầu cho những thay đổi các cơ cấu, nhưng điều đó không phải là đề tài của chúng ta. Nó hệ tại một tiền đề cho sự biến đổi sẽ làm ích cho cả Giáo hội lẫn linh mục, bằng cách làm cho họ hạnh phúc hơn trong ơn gọi của mình. Bởi tiền đề này, chúng ta muốn hiểu rằng thừa tác vụ được thực thi cách « có tổ chức », và cách chính xác, những bộ phận của nó được cân nhắc vì những gì chúng là : không phải là những dụng cụ vì một chức năng vị lợi, nhưng là những tín hữu, xét như là những nhân vị, trong công việc của họ nhắm đến sự hiệp thông, có nhu cầu căn bản là chính mình được bao gồm trong sự hiệp thông này. Để nói rõ hơn : họ không phải là những dụng cụ của linh mục, nhưng là những chi thể của Chúa Kitô, của Thân Thể Người, cùng với linh mục.
Đó là lý do tại sao các linh mục phải biết tự giới hạn, không làm tất cả, nhưng là những gì thuộc về họ về mặt tổ chức ; và sự ưu tư của họ đối với toàn thể cộng đoàn, đặc biệt là mối ưu tư về các chi thể, để họ hòa hợp với nhau, chính họ vẫn lành mạnh và mạnh mẽ, và tìm thấy nơi Thánh Thần sức mạnh thể hiện việc phục vụ của mình.
Như thế, đồng hành thiêng liêng với những người cộng tác thì quan trọng hơn là chính mình và một mình làm tối đa công việc có thể.
Nhưng mà, phải chăng chúng ta có thể dừng lại ở đó ? Phải chăng linh mục không bị giảm trừ thành một vai trò vốn chẳng làm cho họ triển nở và không tương ứng với những chờ đợi của các cộng đoàn về phía các ngài ? Do đó, phải chăng đó chẳng phải là một linh mục xa rời với cuộc sống thường nhật của các thành viên của cộng đoàn, một linh mục không có khả năng gặp gỡ trực tiếp trong một cuộc viếng thăm, bên cạnh các bênh nhân, ở trường học, nhưng trái lại luôn luôn hội họp công việc, nơi những ủy ban ; không có khả năng tiến triển nơi giới làm công hay từ thiện của doanh nghiệp cộng đồng ? Chắc chắn là không phải. Nhưng mà, họ cần phải có can đảm tự giới hạn. Thật tốt khi họ không thể tự mình và một mình làm tất cả. Thật tốt rằng không có nhiều người – và luôn luôn nhiều hơn nữa – tham dự và cộng tác. Nhưng việc « sống cùng nhau » này không nên trở thành một sự gần kề được đồng bộ hóa. Sự chia sẻ những khả năng là cấp thiết ; nhưng núp đằng sau những khả năng và chức năng của riêng mình – và phần còn lại, mỗi người xem làm thế nào mình thực hiện việc phục vụ của mình và nỗ lực hoàn thành – , điều đó không phải là sự hiệp thông mà tất cả phải hướng đến. Phục vụ các ban bệ, đồng hành thiêng liêng, đón tiếp và tôn trọng những người cộng tác chứ không chỉ công việc của họ, đó là ưu tiên của thừa tác vụ linh mục. Và đó là một ưu tiên của linh mục cách trọn vẹn.
Tiếp nhận đòi hỏi thiêng liêng của những người cộng tác của mình, nhờ họ và với họ mang lấy trong tâm hồn mình những thử thách và những vấn nạn của mọi người, và giãi bày chúng cho Chúa : cần phải học biết điều đó từng bước một ; nhưng nếu điều đó được tìm kiếm và mong muốn, thì đó không chỉ là một đòi hỏi mới mẻ, nhưng cũng là một sự trợ giúp cho đời sống của linh mục. Vì thế, không bỏ bê công việc « tầm thường », nhưng nói « vâng » với sự kiện là linh mục không thể làm tất cả và những người khác, cùng với ngài, xây dựng và đồng hành với cộng đoàn. Phục vụ những người cộng tác với mình dẫn linh mục đến trung tâm mà họ không phải là chính mình, nhưng là Đấng Khác mà họ phải sống và chuyển giao sự sống.
VI. Hiện diện tròn đầy và chiếu sáng ở ít nơi thì quan trọng hơn là muốn hiện diện khắp nơi, vội vàng và nửa vời.
Mối ưu tiên này đặc biệt phải cho phép linh mục sống hạnh phúc trong ơn gọi của mình. Nhưng nét hiển nhiên của nó mà không ai thoát khỏi, cũng bao gồm việc linh mục không được tùy tiện lao vào tất cả những gì được đề nghị cho họ. Ta có thể có tham vọng thiết lập một danh sách những điều ưu tiên. Thế nhưng, trong khung cảnh này, dường như điều quan trọng hơn là chỉ ra những quy tắc để nhận ra thánh ý của Thiên Chúa nơi những hoàn cảnh khác nhau. Những điểm mốc để định hướng một la bàn thiêng liêng được cung ứng bởi việc lưu tâm trung thực đến những tư tưởng đối lập nhau khi có một chọn lựa phải thực hiện hay đã thực hiện rồi, nhưng cũng bởi việc chú ý sáng suốt đến cảm giác bình an đi theo những quyết định quan trọng và bởi sự suy tư về những lý do của những quyết định này. Nếu không họ trở nên không thể hiện diện tròn đầy và chiếu sáng ở ít nơi hơn là hiện diện khắp nơi, nhưng vội vàng và nửa vời.
Nhưng điều đó có đối lập với cảm giác trách nhiệm toàn bộ bẩm sinh nơi mọi linh mục và được cắm chặt vào truyền thống lành mạnh và vào sứ mạng chính đáng không ? Dĩ nhiên, ý thức về trách nhiệm của mình này có thể đưa đến những sự mất cân đối, việc tìm kiếm vinh quang hão huyền cho sứ mạng hay con người, thái độ khép kín nơi chính mình hay chỉ nơi thừa tác vụ ; vấn đề không phải là chống lại điều đó. Nhưng thật quan trọng có người, bên kia những nhiệm vụ đặc thù, lại luôn có cái nhìn về toàn thể và về mỗi người. Tình yêu tha thiết của Chúa Giêsu đối với toàn thể có điều gì đó liên hệ với trung tâm Thánh thể của thừa tác vụ của linh mục. Nhưng linh mục, như thế phải chăng họ có thể quyết định chỉ hiện diện ở một vài nơi, chứ không phải là khắp nơi ? Chẳng phải là họ đạt tới số đông ? Nếu linh mục thăm viếng gia đình nọ, chứ không không phải những gia đình khác, nếu vì cơ hội nọ, chứ không phải vì cơ hội kia, họ cử hành giờ kinh, nếu chính họ chủ sự những lễ an táng nọ chứ không phải những lễ an táng kia, nếu họ tham dự vào cuộc hội họp của nhóm hay phong trào nọ, chứ không phải cuộc hội họp kia, thì chẳng phải là các ngài làm tổn hại đến nguyên tắc bình đẳng sao ? Chẳng phải họ không có quyền trên các ngài ? Điều đó đòi hỏi một sự thay đổi não trạng ở cấp độ các cộng đoàn giáo xứ, để sự hiện diện Giáo hội không bị lẫn lộn với sự hiện diện của linh mục, có thể là của cha sở. Nhưng chúng ta hãy suy nghĩ cách thực tế : cho dầu số linh mục là lớn hơn nhiều, ý tưởng về một « sự hiện diện khắp nơi » của linh mục trong đời sống cộng đoàn cũng cứ thuộc về hư cấu tưởng tượng. Vấn đề không chỉ là họ hiện diện ở một số điểm, chứ không phải ở những điểm khác ; nó hệ tại việc hiện diện ở những nơi nhất định này mà một sự sáp nhập liên lỉ vào đời thường, vào kinh nghiệm cuộc sống được đảm bảo cho các ngài.
Đối với các ngài, nó hệ tại hiện diện tròn đầy và chiếu sáng ở những điểm đó. Điều đó có nghĩa rằng họ lắng nghe, họ bước vào trong sự đối thoại mà không giới hạn mình vào một vai đại diện hay thuyết giảng hùng biện theo hoàn cảnh. Hiện diện tròn đầy và chiếu sáng cũng muốn nói rằng họ tham dự vào chuyển động tình yêu của Chúa Giêsu đối với mỗi người và đồng thời mang lại tình yêu tha thiết của Chúa Kitô cho mọi người, cho toàn thể. Vì thế, hãy hiện diện nơi nào bạn có thể, nhưng theo cách mà những người bạn sống với, chính họ được mở ra bên kia những giới hạn của riêng họ và bắt đầu suy nghĩ đến người khác, đến toàn thể.
Như thế điều đó trở nên việc phục vụ cho mọi người và cho toàn thể, khi linh mục sống mối ưu tiên này : hiện diện tròn đầy và chiếu sáng ở ít nơi thì quan trọng hơn là muốn hiện diện khắp nơi, vội vàng và nửa vời.
VII. Hành động trong sự hiệp nhất thì quan trọng hơn hành động trong sự cô lập, dù hoàn hảo đến mấy; vì thế, sự cộng tác thì quan trọng hơn một công việc đơn độc ; sự hiệp thông thì quan trọng hơn hành động.
Chúng ta có thể giải thích điều đó theo cách còn sâu sắc hơn : « Cái ít hoàn hảo nhất, được thực hiện trong sự hiệp nhất, có giá trị hơn là cái hoàn hảo nhất, được thực hiện trong sự cô lập ». Nếu muốn, người ta có thể hiểu điều đó như là sự chạy trốn, vào tổ chim êm ấm, của những người không biết làm thế nào và đau khổ về những nhược điểm của riêng họ. Nhưng đúng là chính khi bức biếm họa này đối lập với lời khẳng định của chúng ta thì người ta có thể hiểu những gì được trình bày : nó hệ tại việc vượt qua sự cô lập, như là sự yếu đuối hay kiêu ngạo, làm xói mòn sự tự tin. Như thế, sự cộng tác sẽ tồn tại không phải do sự yếu đuối của cái tôi, nhưng như là hệ quả của sự cảm thông đối với những anh em khác, sự cảm thông tìm thấy cội nguồn của nó nơi tình bạn với Chúa Kitô. Chúa Kitô đã không bao giờ cam lòng « làm ». Người đã luôn luôn nhìn về Cha, Người đã luôn luôn hành động với Cha. Và chính việc « với » này, là cách sống của Người, và còn hơn nữa, là thể thức, nội tâm đối với Thiên Chúa. Chính ở cách sống này mà Chúa Giêsu làm cho chúng ta tham dự. Những ai mà Người sai đi chính họ phải trải qua thử thách cô tịch, nhưng theo cách của Chúa Giêsu, Người không khép kín nơi chính mình, nhưng trong sự cô tịch này, Người đã sống hiệp nhất sâu xa nhất với ý muốn của Cha và hiệp thông chặt chẽ nhất với chúng ta, mà Người muốn thế chỗ chúng ta mang và lãnh lấy nơi Người tội lỗi và sự đơn côi tuyệt vọng đến mức trong sự ruồng bỏ của Thiên Chúa.
Vì thế, cộng đoàn với Chúa Giêsu, từ xuất phát, là cộng đoàn với những người ở trong cùng sứ mạng và bước theo Chúa Kitô. Việc « với » vốn nối kết Cha và Con trong Thánh Thần, liên kết chúng ta cách bất khả phân chia với Người và với nhau trong cùng Thánh Thần. Đó là lý do tại sao : sự hiệp thông thì quan trọng hơn hành động, sự cộng tác thì quan trọng hơn lao động vất vả ; hành động trong sự hiệp nhất thì quan trọng hơn là hành động, dù hoàn hảo, nhưng trong sự đơn độc.
Tiếng « vâng, nhưng… » đặc biệt cần thiết ở đây. Ngày nay, chẳng phải là bất nhã khi ẩn núp đằng sau trách nhiệm chia sẻ với nhiều người, để không còn cần thực thi trách nhiệm của mình nữa sao ? Những cuộc hội họp, những nhóm làm việc, chẳng phải chúng là màn che quá tinh tế để che giấu sự thiếu khả năng lãnh lấy những quyết định hay việc thiếu những kế hoạch suy nghĩ cân nhắc ? Nếu có điều gì phải được làm, được đưa vào chuyển động, chẳng phải là mỗi người bước đi cách can đảm sao ? Kêu gọi mỗi người như là một nhân vị cần thiết không đối lập với sự ưu tiên được trình bày nếu chúng ta hiểu điều đó trong tất cả chiều sâu của nó ; nhưng vấn đề không phải là làm suy yếu nó nhằm một sự thỏa hiệp dễ dãi.
Điều đó không đơn giản, nhưng chúng ta hãy xem làm sao Chúa Giêsu đã sống hiệp nhất với thánh ý Chúa Cha, làm sao Người đã chiến đấu cùng với các môn đệ của Người và đã dẫn đưa họ đến sự hiệp nhất ; chúng ta hãy dấn thân theo cách hành động của Người. Chúng ta hãy theo tình yêu mãnh liệt của một người tiêu biểu và can đảm như thánh Phaolô khi ngài dấn thân vì sự hiệp nhất của Thánh Thần trong các cộng đoàn. Như thế, chúng ta sẽ khám phá rằng cuộc chiến đấu của chúng ta cho sự hiệp nhất toàn vẹn – và đúng là ở đâu nó bao gồm một sự kiên nhẫn đau đớn, những sự quay trở lại đằng sau, và thậm chí những vết thương – sự chiến đấu này cho sự hiệp nhất đưa chúng ta vào trung tâm của Tin Mừng, trung tâm của cuộc sống và sứ mạng của linh mục.
Khi chúng ta thích cái « toàn thể » hơn mọi ý muốn hoàn hảo cá nhân, chúng ta làm chứng về những gì chúng ta tuyên xưng : « Tôi tin Giáo hội duy nhất ».
VIII. Thập Giá, vì phong nhiêu hơn, thì quan trọng hơn sự hữu hiệu.
Sau khi đã trích dẫn đoạn sách ngôn sứ Giêrêmia (1, 6) – « Ôi lạy Thiên Chúa, tôi không biết nói năng » -, Đức Giáo hoàng ghi nhận trong bài giảng của mình cho các linh mục (Fulda, 1980) : « Khi nhận ra ơn gọi và sứ mạng của mình, ngôn sứ nói với Thiên Chúa về sự yếu đuối của mình » (Định hướng cho các ơn gọi linh mục, tr.114). Nhưng, xa hơn, ngài phê bình một số người chủ trương một hình ảnh linh mục, mà « dường như ngày nay nâng sự yếu đuối này thành nguyên tắc căn bản và tuyên bố nó hầu như là một quyền của con người ». Ngài nói tiếp : « Trái lại, Chúa Kitô đã dạy cho chúng ta rằng con người trước tiên có quyền cao cả riêng của mình (droit à sa propre grandeur), một quyền đối với những gì vượt quá nó…Sự cao cả đích thực của chúng ta là một hồng ân do sức mạnh của Chúa Thánh Thần » (ibid.).
Trong khung cảnh này, được kêu gọi nhìn lên Thập Giá không hệ tại nhìn nó trước tiên và độc nhất trong cuộc sống của riêng mình, nhưng nhìn thập giá của Chúa Kitô vốn quyết định cách thế của linh mục và cho họ tất cả sức mạnh của nó. Sự yếu đuối của Chúa Kitô chịu đóng đinh không đóng kín trong sự tầm thường của chính sự đau khổ, nhưng chiến thắng sự yếu đuối có nguồn gốc của nó trong sự thiếu hụt tình yêu quảng đại.
Vì hành động cứu độ của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu, liên quan đến những gì, duy nhất, có thể cho thừa tác vụ linh mục ý nghĩa và định hướng, do đó, chúng ta có thể khẳng định : Thập Giá, vì phong nhiêu hơn, thì quan trọng hơn sự hữu hiệu.
Nhưng phải chăng có thể khẳng định điều đó cách cụ thể như thế đối với linh mục ? Những gì chính chúng ta phá hỏng hay không có kết quả cho chúng ta, phải chăng chúng ta có thể đơn giản tuyên bố nó là « thập giá » và như thế miễn chuẩn cho chúng ta khỏi nỗ lực khó chịu là nhìn nhận những yếu đuối như là những yếu đuối và sửa chữa những lỗi lầm như là những lỗi lầm ? Chắc chắn là không phải ! Và người nào tìm thấy nơi Thập Giá một lý do thoái thác để không làm tất cả những gì trong khả năng của mình hay để không thay đổi những gì phải là, thì người đó hạ thấp Thập Giá và biến Thập Giá thành một mánh khóe.
Điều này không cất đi điều gì khỏi Thập Giá xét như là luật nền tảng của sự phong nhiêu đích thực, trái lại hoàn toàn thì có. Vâng, đó là một thập giá, một thập giá được Chúa Kitô mang, sự kiện này chúng ta đã không làm hoàn toàn tốt, chúng ta đã trở nên những kẻ có tội và chúng ta tiếp tục trở thành như thế. Tôi phải mang thập giá này và chấp nhận nó, bao gồm cả thập giá (là) đã bỏ lỡ những cơ hội hành động và đã lãng phí những cơ may mà Thiên Chúa ban tặng cho tôi. Nhưng nếu tất cả điều đó được Chúa Kitô mang và biến đổi nơi Thập Giá của Người, thì điều đó muốn nói với tôi : tôi không bỏ cuộc, nhưng tôi lại khởi sự lần nữa, tôi chấp nhận lần nữa thập giá của tôi bằng cách ngay từ bây giờ làm những gì có thể. Chắc chắn, thường có những hoàn cảnh vốn không có gì nữa để làm. Phải chăng điều đó muốn nói rằng không có gì nữa là có thể ? Vâng theo cách mà, đối với Đức Maria dưới chân thập giá, « không có gì » nữa là có thể. Đứng dưới chân thập giá, mang lấy và đảm nhận sự bất lực của mình, tiếp tục yêu mến và hy vọng ở đâu mọi sự dừng lại : đó là điểm giới hạn mà linh mục không phải sợ. Và, nếu họ nắm lấy điều đó cách sáng suốt tỉnh táo, thì họ sẽ luôn trở lại với điểm giới hạn này, có thể thậm chí trong đời sống thường ngày cách này hay cách khác. Đó là điểm quý giá nhất, điểm mà họ có sự liên lạc chặt chẽ nhất với Chúa. Điều đó không nên an ủi họ cách dễ dàng bằng cách làm cho họ quên đi hoàn cảnh đau buồn của mình, nhưng, nếu có thể nói, bằng cách đưa họ đến ở đó : khích lệ họ chấp nhận và chịu đựng điều đó. Vì thế, đừng khép mắt trước những thập giá xảy đến, đừng quay lưng lại với chúng để tìm kiếm một sự hữu hiệu lớn hơn, nhưng đảm nhận những căng thẳng – và điều đó, dù sao đi nữa, cùng với Đấng đã đảm nhận chúng rồi và, cần phải nói điều này, cùng với Mẹ đã ở với Người và đã đứng dưới chân thập giá. Chỉ như thế mà những con đường mới được mở ra để khám phá và để bước đi, hướng đến một sự khởi đầu mới phải mạo hiểm.
Hơn mọi thứ khác, chính ở đó con đường thánh thiện cho chúng ta và cho những người mà sứ vụ của chúng ta được sai đến. Dưới chân thập giá và trên thập giá được chứng thực rằng không phải là bởi thái độ đắc thắng, nhưng là một thái độ hiện thực sau cùng khi chúng ta tuyên xưng : « Tôi tin Giáo hội thánh thiện ».
IX. Mở ra cho toàn bộ (do đó tất cả cộng đoàn, giáo phận, Giáo hội hoàn vũ) thì quan trọng hơn là chú ý đến những quyền lợi riêng biệt, dù chúng được biện giải đến mấy.
Kết luận, đây là hai tiêu chí đánh giá đối lại sự thu hẹp chân trời luôn đe dọa công việc cá nhân. Xây dựng Giáo hội, xây dựng cộng đoàn từ nền móng, đòi hỏi cần phải có tầm nhìn rộng lớn về toàn bộ cộng đoàn. Ở Fulda, Đức Giáo hoàng nói với các Giám mục : « Có một sự kiện làm cho tôi suy nghĩ : ở Châu Phi hay Châu Mỹ Latinh, tôi đã gặp được một sự lạc quan lớn hơn ở Châu Âu đang khi con số linh mục sẵn sàng cho việc mục vụ thì ít hơn. Sự hoảng sợ trước hoàn cảnh khó khăn làm hỏng cái nhìn của chúng ta trong việc tìm kiếm thực tế những gì Chúa muốn nơi chúng ta… » (Định hướng cho các ơn gọi linh mục, tr. 126).
Óc lạc quan và óc hiện thực đòi hỏi một cái nhìn về toàn bộ Giáo hội như là chân trời. Việc đánh giá chính xác giá trị quyết định của Giáo hội địa phương ở mọi cấp bậc chỉ có thể được khai triển dưới chân trời luôn luôn rộng hơn này.
Trong một thế giới mà những quan hệ càng ngày càng trở nên dày đặc, trong sự hiệp thông luôn luôn sống động hơn và, qua đó, đòi hỏi hơn và có giá trị hơn của tất cả các Giáo hội địa phương trên trái đất, chúng ta không thể lẫn tránh sự kiện rằng việc mở ra cho toàn bộ thì quan trọng hơn là những quyền lợi riêng biệt, cho dù chúng được biện giải đến mấy.
Thế mà, điều đó chẳng đơn giản lắm. Thế giới càng trở nên nhỏ bé, thì một tư tưởng toàn thể càng trở nên cấp bách – và điều đó ở mọi cấp bậc : giáo xứ, giáo phận và hoàn vũ – càng trở nên hiển nhiên việc hoàn cảnh không nơi nào giống nhau : những chiếc chìa khóa vạn năng của Giáo hội không tương ứng với tất cả các ổ khóa. Thế mà không có gì sẽ là nguy hại hơn việc khép kín nơi những xác tín riêng của mình : tôi, tôi biết điều gì là tốt cho giáo xứ của tôi, cho những người trẻ của tôi ; Giám mục và Rôma thì ở xa. Can đảm mang lại những vấn nạn, những kinh nghiệm bản thân cho toàn bộ, nhưng cũng chấp nhận từ toàn bộ này những quan điểm rộng hơn, mở rộng chân trời của mình bên kia những quyền lợi riêng và những kinh nghiệm bản thân, điều đó luôn luôn đòi hỏi một phần từ bỏ đau đớn những gì là của riêng chúng ta ; nhưng điều bù lại quan trọng hơn được ban cho chúng ta. Đó thường là một trong những bổn phận khó nhọc nhất của linh mục khi làm luật sư của toàn bộ và bị gò bó trở nên liên đới với những vấn đề, những nghĩa vụ bó buộc và những giải pháp mà, theo quan điểm địa phương, chỉ là khó hiểu.
Chẳng phải đó là sự quá tải vô ích, sức lực bị lãng phí, sự dấn thân vô bổ ? Hoàn toàn không ! Chỉ người nào vượt qua chân trời giới hạn của mình để mở rộng nó cho toàn bộ thì mới nhìn thấy xác đáng. Tôi không phải là tha nhân riêng cho chính tôi ; chỉ có nền tảng và sự sống đối với một thực tại đặc thù trong toàn bộ, trong những gì là rộng nhất và bao quát nhất. Trong trò chơi xen kẽ của sự can đảm kép, sự can đảm diễn tả quan điểm cá nhân và địa phương và sự can đảm chấp nhận người khác, quan điểm toàn bộ, chúng ta bước theo một con đường khởi đầu nơi sách Công vụ các Tông đồ và trong các cộng đoàn của thánh Phaolô ; đơn giản đó là con đường của Thánh Thần, Thánh Thần bao bọc, « công giáo » : Tôi tin Giáo Hội công giáo.
X. Chứng tỏ đức tin cho mọi người thì quan trọng hơn là thỏa mãn mọi thỉnh cầu thường ngày.
Chắc chắn, mối ưu tiên này được sống trong sự căng thẳng với những hoạt động đòi hỏi một sự dấn thân rất mạnh mẽ đối với người này hay người kia, và cường độ của chúng diễn tả một mối ưu tiên khác. Khi chúng ta đọc nơi Heinz Schürmann (Định hướng cho các ơn gọi linh mục, tr. 75) : « Công việc nâng đỡ số đông thì quan trọng hơn công việc – dù hoàn toàn hữu ích – chỉ chạm đến số ít », thì trước tiên, chúng ta cảm thấy bị thúc đẩy thu thập những phản đối. Chắc chắn quy tắc của Schürmann là thú vị cho sự phân định cá nhân : tôi phải đi đâu ? tôi phải làm gì ? Nhưng quy tắc này trước hết cũng có thể được xem như là một tiêu chí hợp lý trong việc bàn thảo với những người thiện chí bày tỏ những thỉnh cầu thường ngày, nhưng lại phải được mời gọi tái khám phá những ưu tiên hành động và đóng góp vào việc thực thi chúng. Vả lại, chắc chắn rằng từ ngữ « mọi người » trong trường hợp này là một giới hạn lý tưởng.
Có lẽ một số người khả nghi tự hỏi : những người này phải chăng họ ăn nói nghiêm chỉnh, vả lại họ cho rằng điều quan trọng hơn đó là sự hiện diện tròn đầy và chiếu sáng ở ít nơi hơn là hiện diện khắp nơi, vội vàng và nửa vời ? Chẳng phải là vấn nạn không ngừng về sự can đảm tự giới hạn và bây giờ người ta lại dùng cái « tất cả », không chỉ như là viễn cảnh cho tư tưởng và hành động như điểm trước đây, nhưng nhắm hành động cụ thể trong cộng đoàn ? Tuy nhiên điều này là nghiêm chỉnh : đức tin được chứng tỏ cho mọi người thì quan trọng hơn là thỏa mãn mọi thỉnh cầu theo thói quen.
Và điều đó thực sự tương ứng với những ưu tiên trước đây, với sự cân bằng mong manh của chúng mà chỉ có thể được giữ từ một cái nhìn luôn luôn mới mẻ trong Chúa Thánh Thần.
Thật ra, nó hệ tại việc tìm ra một tiêu chí cho sự căng thẳng mà linh mục sống khá thường xuyên : nếu tôi không làm điều này hay điều kia nữa, nếu ngày lễ nào đó phải diễn ra mà không có (cử hành) Thánh Thể riêng, không có sự thăm viếng của linh mục, nếu có nhóm nào đó không được linh mục đồng hành cách đều đặn nữa, thì có thể hiểu rằng có những đối kháng trong cộng đoàn. Mặt khác, càng ngày càng có nhiều lãnh vực và cũng nhiều nhóm người thoát ly khỏi sự liên lạc sống động với Giáo hội : đức tin và Tin Mừng thậm chí không còn khẽ chạm đến họ nữa. Đâu là ưu tiên ? Chắc chắn (đó là) mối ưu tư truyền giáo cho mọi người. Nó sẽ không huy động chỉ mình linh mục đến mức trong những chi tiết nhỏ nhất, thậm chí cũng không phải là đứng đầu trong biết bao trường hợp. Nhưng như là người bảo vệ toàn bộ, họ phải bênh vực cho những người ở xa, cũng như cho những người ở bên lề : chính họ cũng ở khá gần vừa tầm tiếng nói hay bàn tay, để được chứng tá và sự phục vụ của Giáo hội chạm đến.
Chỉ khi đọc những ưu tiên trước đây dưới ánh sáng sự thôi thúc truyền giáo này mà chúng ta sẽ đi đến những kết luận đúng đắn. Chẳng hạn : phục vụ những ban bệ, đồng hành với những người cộng tác do đó sẽ muốn nói củng cố họ và nâng đỡ họ chính trong chiều kích truyền giáo của trách nhiệm của họ. Hiện diện ở ít nơi, nhưng tròn đầy và chiếu sáng như thế sẽ muốn nói : đừng chỉ đi tới những nơi mà theo truyền thống đạo đức người ta thường chờ đợi linh mục. Có thể khó chịu việc ngôi nhà thờ không ở trung tâm của ngôi làng, nhưng cũng khó chịu không ít việc Giáo hội không được nhận thấy bởi những lô nhà ngoài rìa của ngôi làng. Và ưu tiên dành cho cuộc sống đối với Chúa, nơi hành động duy nhất, rõ ràng phải dẫn chúng ta đến sự bình an, đến sự nghỉ ngơi mà đồng thời cũng ưu tư bởi vì các ngài ở trong Tình yêu đối với những người vất vả và gánh nặng (x. Mt 11, 28-30).
Sống trong khung cảnh thần linh này, và từ đó, muốn nói sống trong sự năng động của việc sai đi, của truyền giáo. Như thế mà lời này được chứng thực : Tôi tin Giáo hội tông truyền.
Lời bạt
Ba câu hỏi – trong số nhiều câu hỏi được đặt ra đối với mỗi dòng của những suy tư này – phải được nhất thiết lưu tâm khi đọc mười câu ở đầu mỗi chương.
Một phác thảo trả lời là cần thiết cho ba câu hỏi này :
1. Có thích hợp luôn sử dụng cùng một từ « quan trọng hơn » đến độ cố định những ưu tiên hơn là đề ra những điểm nhấn?
Trên thực tế, vấn đề nằm ở đó. Việc sử dụng lặp lại này muốn giúp tập trung tốt hơn vào sự suy tư, vào việc khơi lên sự tương phản được suy nghĩ chín chắn. Diễn ngữ « quan trọng hơn» này cũng rút ra tầm quan trọng của nó từ một viễn cảnh nào đó. Nếu người ta không nhớ giữ một quan điểm như thế, thì người ta có nguy cơ không có một tầm nhìn rõ ràng về toàn bộ. Như thế thật thích hợp việc từ một kiệt tác hình thành nên một bộ sưu tập nghệ thuật giới thiệu tác phẩm này dưới những khía cạnh đa dạng nhất và trong tất cả những chi tiết của nó. Cũng thích hợp rằng một bộ sưu tập như thế có một tựa đề độc nhất mang lại một hình ảnh toàn thể, đánh dấu độc giả và mở độc giả ra với toàn bộ. Cái « quan trọng hơn » được lặp lại 10 lần này được muốn xem như là cái khung, cho dù nó có vẻ giảm thiểu.
2. Chẳng phải chúng ta đang đối diện với một sự đa dạng ưu tiên, những ưu tiên này rất căn bản, những ưu tiên kia rất thực dụng, những ưu tiên khác nữa thì thiêng liêng hay đúng hơn là mục vụ ?
Thật ra, đó không phải là vấn đề linh đạo « thuần túy », nhưng là một vài quan điểm quan trọng mà, một mặt đến từ những định hướng tâm linh nền tảng, đưa đến những kết luận mục vụ và mặt khác, chú tâm đến mục vụ, nhất thiết đòi hỏi có sự hoán cải thiêng liêng. Mục vụ không thể thay thế linh đạo, ngược lại linh đạo cũng không thể thay thế mục vụ. Nhưng nó bắt nguồn từ Thánh Thần của Chúa Giêsu : Người sống ở nội tâm và tìm cách tự thể hiện ra bên ngoài ; Người cấu trúc cái bên ngoài từ cái nội tâm, chia sẻ cho bên ngoài những gì được sống bên trong. Chúng ta hãy xác định rõ rằng việc nại đến Chúa Thánh Thần này chỉ muốn là một chỉ dẫn nhấn mạnh mối liên hệ của « linh đạo » và « mục vụ » trong mỗi một của mười câu.
3. Nếu những gì được viết ở đây là đúng thật, thì phải chăng là đủ để kêu gọi mỗi người để họ hoán cải hay chẳng phải là họ phải có ở đó một tác động rất cụ thể ở cấp bậc những đồ án và kế hoạch mục vụ và bổ nhiệm của giáo phận ?
Như đã nói trong lời giới thiệu, điều đó đã hiện diện nơi tâm trí của các Giám mục khi các ngài suy nghĩ mười đề nghị này. Nhưng ở đây cũng vậy, sự xen kẻ « hoặc là…hoặc là » sẽ là sai lệch. Nếu người ta xem trọng sự hoán cải, thì nó phải được thể hiện ra bên ngoài, nhưng sự hoán cải chỉ có thể khởi đầu từ nội tâm con người. Do đó, đối với một sự khởi đầu kép, một phương hướng kép là cần thiết. Ở đây, cần phải đưa ra một sự thôi thúc cho một bước đầu khởi đầu, một sự khởi động từ nội tâm. Nếu sự khởi động này thành công, thì như thế người ta sẽ tìm thấy được sự can đảm, sức sáng tạo và tính sẵn sàng ứng trực để được thay đổi những gì có thể thay đổi nhờ những chỉ dẫn.
—————————————–
MỤC LỤC
– Lời Nhà xuất bản.
– Làm thế nào sống thiên chức linh mục ngày nay ?
– Lời nói đầu.
I. Cách sống của tôi với tư cách là linh mục thì quan trọng hơn tất cả những gì tôi làm với tư cách là linh mục.
II. Những gì Chúa Kitô thực hiện nơi tôi thì quan trọng hơn những gì chính tôi làm.
III. Sống sự hiệp nhất trong linh mục đoàn thì quan trọng hơn là để bị ngập chìm một mình bởi công việc của tôi.
IV. Việc phục vụ cầu nguyện và Lời Chúa thì quan trọng hơn việc phục vụ bàn ăn.
V. Đồng hành thiêng liêng với những người cộng tác thì quan trọng hơn là chính mình và một mình làm tối đa công việc có thể.
VI. Hiện diện tròn đầy và chiếu sáng ở ít nơi thì quan trọng hơn là muốn hiện diện khắp nơi, vội vàng và nửa vời.
VII. Hành động trong sự hiệp nhất thì quan trọng hơn một hành động trong sự cô lập, dù hoàn hảo đến mấy ; vì thế, sự cộng tác thì quan trọng hơn một công việc đơn độc ; sự hiệp thông thì quan trọng hơn hành động.
VIII. Thập Giá, vì phong nhiêu hơn, thì quan trọng hơn sự hữu hiệu.
IX. Mở ra cho toàn bộ (vì thế tất cả cộng đoàn, giáo phận, Giáo hội hoàn vũ) thì quan trọng hơn là chú ý đến những quyền lợi đặc thù, dù chúng được biện giải đến mấy.
X. Chứng tỏ đức tin cho mọi người thì quan trọng hơn là thỏa mãn mọi thỉnh cầu thường ngày.
– Lời bạt.
————————————————
Lm. Võ Xuân Tiến chuyển ngữ
theo bản tiếng Pháp : Linh mục : sống tròn đầy hơn là sống leo lắt : mười ưu tiên cho hôm nay (BREUNING, Wilhelm ; HEMMERLE, Klaus, Prêtres : Vivre plutôt que survivre : 10 priorités pour aujourd’hui, Nouvelle Cité, 1994, 75p).
Bản Pháp ngữ do nhóm Phục vụ các Ơn gọi Strasbourg dịch từ nguyên bản tiếng Đức : « Wie als Priester heute leben ? » (« Làm thế nào sống thiên chức linh mục ngày nay ? »).
Paris, ngày 29/06/2008, Lễ thánh Phêrô và Phaolô Tông đồ, kỷ niệm 7 năm lãnh nhận thiên chức linh mục (29/06/2001-29/06/2008).
Cập nhật chỉnh sửa ngày 22/01/2026.


