Kinh tếLưu trữ

HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TRONG MỘT THẾ GIỚI TOÀN CẦU HÓA

HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TRONG MỘT THẾ GIỚI TOÀN CẦU HÓA - TỔN THẤT CỦA NGƯỜI NGHÈO LỚN HƠN RẤT NHIỀU SO VỚI LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI GIÀU

HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TRONG MỘT THẾ GIỚI TOÀN CẦU HÓA – TỔN THẤT CỦA NGƯỜI NGHÈO LỚN HƠN RẤT NHIỀU SO VỚI LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI GIÀU

Joseph Stiglitz

29/03/2026

WHĐ (29/3/2026) – Bài viết phơi bày những bất cập mang tính cơ cấu của hệ thống tài chính toàn cầu, đặc biệt trong tương quan với các quốc gia nghèo. Từ góc nhìn kinh tế và luân lý, tác giả mời gọi một cuộc cải tổ nhằm phục vụ công bằng, phát triển bền vững và phẩm giá con người.

Ngày nay, chúng ta không chỉ đối diện với một cuộc khủng hoảng nợ nơi các quốc gia nghèo nhất, mà còn là một cuộc khủng hoảng kép về nợ và phát triển. Gánh nặng nợ nần khiến nhiều quốc gia nghèo, trong nỗ lực tránh vỡ nợ, buộc phải cắt giảm đầu tư vào giáo dục, y tế và cơ sở hạ tầng để thanh toán cho các chủ nợ nước ngoài. Những cắt giảm này làm tổn hại đến tương lai của các quốc gia ấy, gần như chắc chắn rằng họ không thể thoát khỏi tình trạng nghèo đói mà họ đang mắc kẹt. Số tiền họ vay để thoát nghèo lại đang mang lại hiệu quả ngược lại.

Vì sao lại như vậy? Tại sao hệ thống tài chính toàn cầu lại thất bại một cách có hệ thống trong việc hỗ trợ những người cần đến nguồn tài chính nhất? Trong hơn một năm qua, các thành viên của Ủy ban Năm Thánh, do Đức Thánh Cha Phanxicô thiết lập, đã đào sâu câu hỏi này. Câu trả lời là: tồn tại những khiếm khuyết mang tính hệ thống trong chính thiết kế của hệ thống tài chính. Đáng chú ý, dòng vốn vận hành theo chu kỳ thuận đối với các quốc gia đang phát triển và theo chu kỳ nghịch đối với các quốc gia phát triển: vốn rút đi khỏi các nước đang phát triển đúng vào lúc họ cần nhất, và lại đổ vào khi họ ít cần nhất. Điều này làm gia tăng bất ổn thay vì giảm thiểu nó. Vì thế, các quốc gia đang phát triển cần can thiệp vào những dòng vốn gây suy yếu nền kinh tế này thông qua các quy định quản lý tài khoản vốn. Những biện pháp này có thể bao gồm yêu cầu dự trữ tối thiểu hoặc áp thuế đối với dòng vốn rút ra, được công bố trước khi dòng vốn đổ vào, nhằm hạn chế dòng vốn đầu cơ ngắn hạn gây biến động tỷ giá. Trong một thời gian dài, Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã phản đối các biện pháp như vậy; mãi đến năm 2011, cơ quan này mới thừa nhận lợi ích của chúng. Nhưng họ vẫn chậm trễ trong việc hỗ trợ các quốc gia thiết kế những công cụ hiệu quả nhằm bảo đảm ổn định kinh tế.

Tất nhiên, chúng ta cũng cần đặt ra một câu hỏi khác: vì sao các thị trường tự do không bị kiểm soát lại có thể vận hành lệch lạc đến vậy? Một phần là vì các chủ nợ thường thiển cận, không quan tâm đến hệ quả mang tính hệ thống của hoạt động cho vay. Họ chỉ sẵn sàng cho vay khi nền kinh tế đang thuận lợi. Ngược lại, các chính phủ đôi khi cũng thiển cận, khi đánh giá thấp tương lai.

Hơn nữa, các định chế tài chính quốc tế (IFIs) như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) có thể đã vô tình khuyến khích tình trạng vay và cho vay quá mức. Khi nền kinh tế của một quốc gia đang phát triển suy giảm (thường không phải do lỗi của chính họ mà do suy thoái toàn cầu) các nhà đầu tư rút vốn ngay vào lúc quốc gia ấy cần nguồn lực nhất. Khi đó, các định chế quốc tế thường can thiệp, cung cấp ngoại tệ, nhưng thực chất dòng tiền này lại chảy thẳng đến các chủ nợ tư nhân. Đây là một hình thức giải cứu ngầm. Đúng ra, nguồn vốn này phải được dùng cho các dự án phát triển, nhằm giảm nghèo và nâng cao mức sống. Thế nhưng, do tính hoán chuyển của tiền tệ, nó lại âm thầm quay về tay các chủ nợ giàu có ở các quốc gia phát triển, giúp họ rút lại nguồn vốn của mình trước khi khủng hoảng xảy ra.

Các định chế tài chính quốc tế thường được nhìn nhận như những người bạn của các chủ nợ – buộc các quốc gia đang phát triển phải thực thi những chính sách thắt lưng buộc bụng, gây tổn hại cho tăng trưởng và nỗ lực xóa đói giảm nghèo, nhưng lại phù hợp với lợi ích của các chủ nợ và các quốc gia giàu có, nơi các chủ nợ ấy đặt trụ sở. Tuy nhiên, vài trò của các IFIs không chỉ dừng lại ở việc đưa ra các khuyến nghị hay áp đặt các điều kiện khắc nghiệt đối với các quốc gia đang phát triển. Dù mang dáng vẻ như nhằm hỗ trợ các quốc gia này, một chức năng quan trọng của họ thực chất là giải cứu các chủ nợ, những người đã không thực hiện đầy đủ trách nhiệm thẩm định để bảo đảm rằng các khoản vay được sử dụng cho những dự án có khả năng sinh lợi đủ để hoàn trả cả vốn lẫn lãi. Bằng cách đó, các IFIs trên thực tế đã góp phần khuyến khích những hoạt động cho vay thiếu trách nhiệm. Tệ hơn nữa, gánh nặng của những sai lầm này lại đổ lên vai các quốc gia nghèo, bởi lẽ khi IMF giải cứu các chủ nợ tư nhân, quốc gia đi vay vẫn phải chịu trách nhiệm hoàn trả. Chỉ có rất ích chính phủ đủ can đảm tuyên bố vỡ nợ đối với IMF, vì họ biết rằng sẽ có lúc họ lại cần đến sự hỗ trợ của tổ chức này, hoặc vì họ lo ngại những hệ quả chính trị trước mắt mà việc vỡ nợ có thể gây ra.

Vậy, chúng ta phải làm gì lúc này? Trước hết, cần tiến hành tái cơ cấu nợ đối với các quốc gia đang lâm vào tình trạng khủng hoảng nợ. Trong nhiều trường hợp, việc kéo dài thời hạn thanh toán có thể là đủ, nếu các chủ nợ tư nhân chấp nhận giảm mức lãi suất vốn không bền vững hiện tại. Khi đó, ta có thể nói rằng vấn đề không nằm ở khả năng thanh toán dài hạn, mà là vấn đề “thanh khoản”. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy nơi các chủ nợ tư nhân, lòng tham thường lấn át lý trí: họ tìm cách vắt kiệt nguồn lực từ những quốc gia nghèo đến mức kiệt quệ, những quốc gia vốn dĩ không có khả năng chi trả. Đây không phải là một thế giới “tổng bằng 0” (zero-sum), trong đó người này được lợi bằng cái giá là mạng sống và sinh kế của người nghèo nhất. Điều đó có thể bị xem là đáng lên án về mặt luân lý, nhưng không phải là điều bất ngờ, xét đến não trạng của chủ nghĩa tư bản hiện đại với khẩu hiệu “lòng tham là điều tốt”. Thực tế, đây là một thế giới “tổng âm” (negative-sum): khi các quốc gia nghèo nhất bị tước mất cơ hội tăng trưởng và phát triển, thì những tổn thất mà họ gánh chịu lớn hơn rất nhiều so với lợi ích mà các quốc gia giàu đạt được. Thế nhưng, đối với những chủ nợ tệ hại nhất, điều đó dường như không quan trọng – họ vẫn tìm mọi cách để thu về từng đồng cuối cùng, bất chấp mọi hậu quả.

Tình trạng này không chỉ phi luân về mặt đạo đức, mà còn kém hiệu quả về kinh tế và gây hậu quả nghiêm trọng về chính trị đối với toàn thế giới. Tuy nhiên, vẫn có một con đường tốt hơn và con đường đó là khả thi: chính sách ‘không giải cứu’ các chủ nợ tư nhân, như đã đề cập trước đó, sẽ thúc đẩy các hoạt động cho vay có trách nhiệm hơn, đồng thời buộc các chủ nợ phải chấp nhận mức lãi suất thấp hơn trong tiến trình tái cơ cấu nợ một cách bền vững. Nếu không, kịch bản thay thế sẽ là một cuộc khủng hoảng nợ, trong đó chính họ cũng sẽ thu hồi được ít hơn. Những phân tích chính xác và trung thực hơn về tính bền vững của nợ, nhằm xác định mức mà một quốc gia có thể chi trả mà không gây tổn hại quá mức đến tăng trưởng tương lai và nỗ lực giảm nghèo, sẽ là một trợ giúp rất lớn. Như đã đề cập, các chủ nợ thường tìm cách đòi hỏi nhiều hơn khả năng chi trả thực sự của các quốc gia nghèo; vì thế, việc có một đánh giá khách quan là điều hết sức cần thiết.

Hệ thống pháp lý tại một số quốc gia chủ nợ hàng đầu còn làm trầm trọng thêm những vấn đề này. Chẳng hạn, tại New York, nơi phát hành phần lớn trái phiếu quốc tế, mức lãi suất trước phán quyết (khoản lãi phát sinh trong thời gian chờ giải quyết vụ kiện) lên tới 9%. Điều này tạo động lực để các chủ nợ kéo dài tranh chấp, bởi mức sinh lợi này cao hơn hầu như bất cứ nơi nào khác.

Các quốc gia đang phát triển rơi vào một tình thế nan giải: trong khi thiếu nguồn vốn “tốt” – tức là những nhà đầu tư sẵn sàng đầu tư dài hạn và mang tính xây dựng – thì lại dư thừa nguồn vốn “xấu”, vốn chỉ đổ vào khi không cần thiết và rút đi đúng lúc cần nhất, gây ra lạm phát trong thời kỳ tăng trưởng và khủng hoảng trong thời kỳ suy thoái. Cần có nhiều cải cách sâu rộng hơn đối với hệ thống tài chính toàn cầu để xây dựng một nền kinh tế thế giới công bằng và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, ba đề xuất trong bài viết ngắn này – chấm dứt việc giải cứu các chủ nợ tư nhân từ phía các định chế tài chính quốc tế, thiết lập mức lãi suất bền vững, và tái lập các công cụ kiểm soát dòng vốn nhằm ổn định nền kinh tế – có thể góp phần quan trọng trong việc kiến tạo một thế giới tốt đẹp hơn, nơi thị trường nợ toàn cầu không chỉ phục vụ lợi ích của người giàu, mà còn thực sự hướng đến người nghèo.

Lm. Titô Trần Nguyên Lãm

Chuyển ngữ từ: L’Osservatore Romano

Related Articles

Back to top button