ỦY BAN GIÁO DÂN – THƯỜNG HUẤN THÁNG 7/2026: ÁNH SÁNG NƠI CÔNG VIỆC VÀ XÃ HỘI
02/07/2026
Ban Nghiên huấn
Ủy ban Giáo dân
Hội đồng Giám mục Việt Nam
CÁC BÀI THƯỜNG HUẤN DÀNH CHO GIÁO DÂN
THÁNG 7/2026
BÀI I – KITÔ HỮU LÀ MUỐI, LÀ MEN VÀ LÀ ÁNH SÁNG THẾ GIAN
Lm. Giuse Maria Lê Quốc Thăng
Chúng ta được nghe Chúa Giêsu mời gọi mọi người trở nên muối, men và ánh sáng cho thế gian. Ý nghĩa của lời mời gọi này rất rõ ràng. Kitô hữu là muối, là men và là ánh sáng cho con người và thế giới hôm nay. Giữa một thế giới của nền văn minh tiện nghi vật chất phát triển; giữa một thế giới đang bị che phủ bởi một nền văn minh của sự chết với biết bao đau khổ, bất công, bạo lực, người Kitô hữu phải làm muối ướp cho mặn đời, làm ánh sáng chiếu soi mọi ngõ tối cuộc sống như thế nào ? Theo sự hướng dẫn của Chúa Giêsu, đặt mình theo Thần Khí của Người soi dẫn, chúng ta nhận ra muối và ánh sáng chính là sống tình yêu của Thiên Chúa dành cho anh chị em chung quanh.
Là muối, là men và là ánh sáng cho thế gian, chính là ơn gọi của Kitô hữu, những môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu Kitô.
1. Muối cho đời, men trong bột và ánh sáng trần gian
Chúa Giêsu nhắc nhở cho các môn đệ biết họ có một sứ mạng phải chu toàn: đó là, họ phải trở nên muối cho đời và ánh sáng cho thế gian. Họ chỉ có thể làm được điều đó trong việc họ sống Tám mối phúc thật.
a. Muối cho đời (Mt 5,13): Muối chính là phẩm chất của người môn đệ Đức Kitô. Phẩm chất đó được hình thành từ việc gắn bó với Chúa Giêsu Kitô, trung thành bước đi theo Người. Đời là một từ ngữ quen thuộc của Cựu ước. Ở đây “đời” song song với “thế gian”. Muối cho đời, cho thế gian với ý nhấn mạnh muối không chỉ là phẩm chất cần thiết cho người môn đệ, song còn cần thiết để chu toàn sứ mạng đối với nhân loại. Muối cần thiết để ướp giữ sự tươi mới, làm tăng hương vị. Trở thành muối nghĩa là mang tình thương, lòng bao dung và sự công chính để ngăn chặn sự tha hóa, vô cảm trong xã hội. Muối chỉ có tác dụng khi tan biến vào thức ăn; người Kitô hữu cũng cần khiêm tốn hy sinh cái “tôi” để phục vụ tha nhân.
b. Men trong bột (Mt 13,33): Tuy ít ỏi nhưng men có sức mạnh làm dậy cả khối bột lớn. Sứ mạng của Kitô hữu, môn đệ Chúa Kitô là âm thầm biến đổi các thực trạng trần thế (gia đình, công sở, xã hội) từ bên trong bằng những giá trị luân lý và tinh thần lành mạnh. Men có khối lượng rất nhỏ so với ba thúng bột nhưng có khả năng làm biến đổi toàn bộ khối bột. Nước Trời hay Tin mừng ban đầu có vẻ nhỏ bé, ẩn khuất nhưng mang sức mạnh nội tại vô cùng lớn để thay đổi thế giới. Sự thấm nhập và hiện diện của men không hoạt động khi để riêng rẽ mà phải được “trộn vào”, hòa tan hoàn toàn vào trong bột. Điều này tượng trưng cho việc người Kitô hữu cần dấn thân, sống giữa cuộc đời để lan tỏa các giá trị tốt đẹp.
c. Ánh sáng thế gian (Mt 5,14): có nghĩa là cho thế gian chứ không thuộc về thế gian hay là bản chất của thế gian. Ánh sáng chính là Chúa Giêsu, các môn đệ là những người tin và đón nhận Chúa Giêsu để rồi sống theo Lời Người, từ đó cuộc đời của họ nảy sinh những kết quả tốt đẹp, con người của họ trở nên thánh thiện, tốt lành làm gương sáng cho người khác noi theo và tin vào Chúa. Như ánh sáng xua tan bóng tối và soi đường thế nào thì cuộc sống của người Kitô hữu cũng phải tích cực xua tan bóng tối của tội lỗi, của sự dữ và dấn thân xây dựng một thế giới thấm đượm nền văn minh tình thương và sự sống. Các môn đệ của Chúa Giêsu nhất thiết phải ảnh hưởng trên nhân loại. Người môn đệ của Chúa phải sống đúng tinh thần Bát phúc thì mới có thể tỏa chiếu trong thế gian và ướp mặn môi trường sống của mình.
2. Kitô hữu là muối, là men và là ánh sáng cho đời – một sứ mạng nhất thiết phải thi hành. Đây là sứ mạng phải tạo nên ảnh hưởng trên con người và môi trường xã hội mình sống. Một ảnh hưởng tích cực để tất cả thấm nhuần những giá trị Tin mừng. Nói cách khác, sứ mạng làm muối, làm men, làm ánh sáng chính là cố gắng trở nên gương lành gương sáng cho người khác và tích cực xây dựng xã hội mình sống theo những giá trị nhân bản và Tin mừng. Nếu biết chấp nhận sống hạnh phúc theo quan điểm của Tám mối phúc thật thì người Kitô hữu mới có thể tỏa chiếu trong thế gian và ướp mặn môi trường sống của mình. Vì là muối, là ánh sáng cho đời, cho nên Kitô hữu phải dấn thân vào trong cuộc sống, phải chịu trách nhiệm về những gì chưa tốt, chưa đúng, chưa đẹp trong xã hội mình; không thể có thái độ trốn chạy hay khép kín.
3. Là muối, là men là ánh sáng cho đời – một sứ mạng không đơn giản. Với sứ mạng làm muối, làm men, làm ánh sáng cho thế gian, người Kitô hữu bắt buộc phải đi vào đời, phải dấn thân vào giữa lòng nhân loại, cùng sống, cùng chia sẻ cuộc sống với môi trường chung quanh. Sứ mạng này làm cho những giá trị Tin mừng được thể hiện nơi mỗi Kitô hữu thấm sâu vào mọi ngõ ngách thế trần. Tuy nhiên, nói thì dễ nhưng làm thì quả thật không đơn giản. Ngày nay, xã hội con người đang tràn ngập biết bao nhiêu những chuẩn mực giá trị đi ngược lại Tin mừng. Nền văn minh sự chết, những trào lưu thực dụng, giá trị vật chất đã và đang trở nên sức mạnh chi phối toàn bộ nhân loại. Với bối cảnh xã hội như thế, chỉ việc phòng giữ cho mình khỏi bị mê hoặc, bị sa ngã đã là một thử thách nặng nề cho Kitô hữu rồi, cho nên rất khó để chu toàn sứ mạng của mình. Nhưng dẫu sao, không được chán nản, bi quan thất vọng. Cần phải kiên trì, không buông thả. Chính việc can đảm thực thi Tin mừng sẽ làm cho Kitô hữu thực sự nên muối, nên ánh sáng. Và hơn nữa chính Thiên Chúa sẽ hoạt động nơi mỗi người.
Chúa Giêsu sau khi kêu gọi môn đệ trở nên muối và ánh sáng, Người đã căn dặn phải giữ được độ mặn của muối, phải thắp đèn soi sáng chứ không lấy thùng úp lại. Ở đây, Chúa Giêsu nhắc nhở các môn đệ cần phải trung thành với đức tin của mình, phải gìn giữ và phát triển những phẩm giá Tin mừng nơi bản thân mình. Làm cho những phẩm giá cao quý của người môn đệ Chúa Giêsu ngày càng tỏ lộ nơi chính mình. Nếu muối đã lạt chẳng còn lợi ích gì nữa, chỉ ném ra đường cho người ta chà đạp mà thôi. Kitô hữu cũng thế, nếu đánh mất sự cao quý của mình, nếu không sống Tin mừng thì cũng là một thứ muối lạt không còn đáng để cho người khác tôn trọng nữa. Như đèn được thắp sáng đặt trên giá đèn để soi sáng, Kitô hữu cũng được mời gọi làm gương lành gương sáng cho người khác. Do đó, nếu Kitô hữu không dấn thân vào đời mà chỉ biết khép kín, thủ lợi, ích kỷ thì không khác gì đèn thắp sáng lên rồi lấy thúng úp lại.
Sống đức tin, trung thành theo giáo huấn Tin mừng, gắn bó với Chúa Giêsu Thánh Thể là những phương thế hữu hiệu, cần thiết để giữ vững phẩm chất của Kitô hữu, giữ chất muối Tin mừng, giữ ánh sáng đức tin nơi mỗi Kitô hữu, môn đệ Chúa Giêsu Kitô. Dấn thân vào đời làm muối, làm ánh sáng, đó là sứ mạng của mỗi Kitô hữu. Sứ mạng này chỉ có thể thực hiện được nhờ ơn Chúa mà thôi. Thánh Thể chính là nguồn dầu không bao giờ cạn để thắp sáng ngọn đèn đức tin, là nguồn sức sống để gìn giữ chất muối Tin mừng cho mọi người.
* Hồi tâm:
1/ Anh chị em hiểu gì về ý nghĩa của câu: Kitô hữu, môn đệ thừa sai của Chúa Kitô là muối, là men, là ánh sáng cho trần gian?
2/ Là Kitô hữu tôi phải làm gì để giữ được chất muối nơi bản thân, để làm gương sáng, để giúp người khác sống tốt hơn?
3/ Mỗi người chúng ta tự hỏi lại chính mình xem tôi đã là muối, là men, là ánh sáng cho môi trường sống của tôi như thế nào?
BÀI II – NGƯỜI GIÁO DÂN HỘI NHẬP TIN MỪNG VÀO MÔI TRƯỜNG NGHỀ NGHIỆP VÀ BẬC SỐNG CỤ THỂ
Lm. Antôn Hà Văn Minh
Công đồng Vatican II nói về cảnh sống trần thế của giáo dân bằng cách trình bày cảnh sống ấy, trước tiên, như là môi trường trong đó họ được Thiên Chúa mời gọi: “Đó là nơi Thiên Chúa gọi họ” (Lumen gentium (LG), số 31). “Ở đây, ‘nơi’ được trình bày bằng những hạn từ có tính cách năng động: giáo dân sống giữa trần gian, nghĩa là dấn thân vào tất cả cũng như từng công việc và bổn phận của trần thế, giữa những cảnh sống thường ngày trong gia đình và ngoài xã hội, tất cả những điều đó như dệt thành cuộc sống của họ”[1]. Thực vậy, giáo dân được “Thiên Chúa kêu gọi để, dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc âm, như men từ bên trong, họ thánh hóa thế giới bằng việc thi hành những nhiệm vụ của mình; và như thế, với lòng tin cậy mến sáng ngời, nhất là với chứng tá đời sống, họ tỏ lộ Chúa Kitô cho kẻ khác”(LG số 31).
Trong thế giới hôm nay, phần lớn thời gian của người giáo dân được dành cho gia đình, công việc, học tập và các mối tương quan xã hội. Chính nơi đó, người giáo dân được mời gọi sống và làm chứng cho Tin mừng. Công đồng Vaticanô II khẳng định rằng sứ mạng riêng của người giáo dân là thánh hóa trần thế từ bên trong như men trong bột (x. LG, số 31). Vì thế, sống đạo không chỉ giới hạn trong nhà thờ hay các sinh hoạt tôn giáo, nhưng còn là đem tinh thần Tin mừng thấm nhập vào mọi môi trường sống: gia đình, trường học, công sở, nhà máy, bệnh viện, thương trường và xã hội…
1. Giáo dân được sai vào lòng thế giới
“Chính vì là thành phần của Giáo hội, nên giáo dân có ơn gọi và sứ mạng loan báo Tin mừng: họ có khả năng và dấn thân vào hoạt động này nhờ các bí tích khai tâm Kitô giáo và các ân huệ Chúa Thánh Thần. Vì được nuôi dưỡng nhờ tham dự cách tích cực vào đời sống phụng vụ của cộng đoàn, chính họ nhiệt thành góp phần vào những công cuộc tông đồ của chính cộng đoàn đó; họ đem những người có lẽ đang xa lạc trở về với Giáo hội; họ cộng tác đắc lực vào việc rao truyền Lời Chúa, nhất là bằng việc dạy giáo lý; họ đem khả năng của mình làm cho việc coi sóc các linh hồn và cả việc quản trị tài sản của Giáo hội sinh hiệu quả hơn”[2]
Và như thế, qua Bí tích Rửa tội, người giáo dân đã nhận được sự sai phái đi làm chứng cho Chúa trong thế giới, sự sai phái này đến trực tiếp từ Thiên Chúa chứ không qua một quyền năng nào của con người. Nhiệm vụ đầu tiên của người giáo dân là làm cho thấm nhuần và biến đổi các thực tại trần thế bằng tinh thần Tin mừng[3]. Người giáo dân hoán cải môi trường nơi mình hiện diện theo tinh thần của Tin mừng qua công việc nghề nghiệp, các mối tương quan xã hội và đời sống gia đình. Họ góp phần thánh hóa thế giới từ bên trong như men trong bột. Sự trung thực trong công việc, lòng bác ái đối với tha nhân, tinh thần phục vụ vô vị lợi, sự công bằng và trách nhiệm xã hội đều là những hình thức loan báo Tin mừng rất cụ thể.
Ngày nay, giữa một xã hội đầy những thay đổi nhanh chóng, người giáo dân càng được mời gọi ý thức rõ hơn căn tính truyền giáo của mình. Họ được sai đi không phải để tìm kiếm danh vọng hay ảnh hưởng cho bản thân, nhưng để làm cho Đức Kitô hiện diện trong thế giới. Mỗi gia đình Kitô giáo trở thành một “Hội thánh tại gia”, mỗi nơi làm việc trở thành một môi trường làm chứng cho các giá trị Tin mừng, và mỗi tương quan con người trở thành cơ hội để giới thiệu tình yêu của Thiên Chúa.
Vì thế, người giáo dân không sống đức tin tách biệt khỏi cuộc sống thường ngày. Chính giữa những bổn phận nghề nghiệp, trách nhiệm gia đình và các sinh hoạt xã hội, họ thực hiện sứ mạng của mình. Thế giới không chỉ là nơi giáo dân sinh sống, nhưng còn là cánh đồng truyền giáo mà Thiên Chúa trao phó cho họ. Khi sống đúng ơn gọi ấy, người giáo dân trở thành ánh sáng cho trần gian và là muối men làm cho xã hội ngày càng thấm nhuần tinh thần của Tin mừng.
Được sai đi vào trong lòng thế giới, người giáo dân “phải làm chứng rằng niềm tin là câu trả lời duy nhất và hoàn toàn, mà với ít nhiều ý thức, họ thoáng nhận ra và viện dẫn, để giải đáp cho những vấn đề và những niềm hy vọng do cuộc sống của mỗi người cũng như của cả xã hội đang gợi lên. Có thể thực hiện được điều đó một khi người giáo dân biết vượt thắng nơi chính mình sự phân cách giữa Tin mừng và cuộc sống, bằng cách biết tạo nên trong sinh hoạt thường nhật, trong gia đình, khi làm việc, trong xã hội, sự thống nhất của một đời sống được Tin mừng gợi hứng và giúp sức thể hiện đầy đủ”[4]. Đức Lêô XIV đã diễn tả tinh thần vãi gieo Tin mừng qua việc chung tay xây dựng một cộng đoàn hiệp thông trong Thông điệp Magnificat Humanitas như sau: “Thật vậy, đó là khả năng cùng nhau xây dựng, biến sự đa dạng thành một nguồn lực và biến việc lắng nghe và đối thoại thành nền tảng chung để vun đắp công lý và tình huynh đệ. Trong nhiệm vụ chung này, các Kitô hữu khám phá ra vai trò độc đáo của mình trong việc hướng dẫn hành động về phía Thiên Chúa để, trong ánh sáng của Người, chủ nghĩa đa nguyên không tan biến thành sự hỗn loạn, mà thay vào đó, thông qua việc thực hành tính đồng nghị, nó trở thành không gian trong đó nhân loại tái khám phá nền tảng vững chắc và mục đích cuối cùng của mình”[5]
2. Hội nhập Tin mừng vào môi trường nghề nghiệp
Đối với người Kitô hữu, nghề nghiệp không đơn thuần là phương tiện kiếm cơm – áo – gạo – tiền, nhưng còn là một ơn gọi. Qua công việc, con người cộng tác với Thiên Chúa trong việc xây dựng thế giới tốt đẹp hơn. Tông huấn Christifideles Laici đã nhắc nhở: “Giáo dân dấn thân trong ngành khoa học và kỹ thuật, với những danh nghĩa và trên những bình diện khác nhau, cũng như những ai có trách nhiệm trong ngành y học, xã hội, luật pháp hay kinh tế, phải can đảm chấp nhận “những thách đố” do những vấn đề mới của đạo đức sinh học gây ra. … Các Kitô hữu phải thi hành trách nhiệm như những chủ nhân của khoa học và công nghệ học chứ không được làm nô lệ cho chúng”[6]
Khi dấn thân trong môi trường nghề nghiệp, cho dẫu trong bất cứ lãnh vực nào, người giáo dân luôn nỗ lực gieo vãi tinh thần Tin mừng qua chứng tá của đời sống cách cụ thể:
* Sống trung thực
Người sống trung thực luôn tôn trọng sự thật, chu toàn trách nhiệm và không tìm kiếm lợi ích bằng những phương thế gian dối. Trong công việc, sự trung thực được thể hiện qua việc làm đúng bổn phận, không gian lận, không tham nhũng, không lừa dối khách hàng hay đồng nghiệp. Dù có thể phải chịu thiệt thòi trước mắt, họ vẫn chọn điều đúng đắn vì ý thức rằng mọi việc mình làm đều diễn ra trước mặt Thiên Chúa.
Trong một xã hội mà đôi khi sự dối trá, giả tạo hay vụ lợi được xem như con đường dẫn đến thành công, người Kitô hữu sống trung thực trở thành một dấu chỉ khác biệt. Chính đời sống ngay thẳng ấy làm cho người khác nhận ra sức mạnh của Tin mừng. Nhiều khi người ta không biết đến giáo lý hay những bài giảng của Hội thánh, nhưng họ có thể cảm nhận được sự hiện diện của Chúa qua một người thầy tận tâm, một bác sĩ có lương tâm nghề nghiệp, một doanh nhân chân chính hay một công nhân làm việc với trách nhiệm và sự thật. Đức Giêsu đã dạy: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm mà tôn vinh Cha của anh em trên trời” (Mt 5,16). Vì thế, lòng trung thực trong nghề nghiệp không chỉ đem lại uy tín cho cá nhân mà còn trở thành lời loan báo Tin mừng không lời. Đó là một hình thức truyền giáo âm thầm nhưng đầy sức thuyết phục. Theo Đức Bênêđictô XVI, người tín hữu không thể tách rời đức tin khỏi đời sống nghề nghiệp. Sự trung thực trong kinh doanh, quản lý và lao động chính là biểu hiện cụ thể của đức ái trong chân lý.[7]
* Làm việc với tinh thần phục vụ
Tinh thần phục vụ là một trong những nét đẹp nổi bật của người môn đệ Đức Kitô. Trong Tin mừng, Chúa Giêsu không đến để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến mạng sống mình vì mọi người (Mc 10,45). Ngài đã cúi xuống rửa chân cho các môn đệ, để lại cho chúng ta mẫu gương của một tình yêu khiêm nhường và trao ban. Vì thế, người Kitô hữu được mời gọi mang tinh thần ấy vào chính môi trường nghề nghiệp và công việc hằng ngày. Công đồng Vaticanô II đã nói: Nhờ lao động của mình, con người thường nuôi sống bản thân và gia đình, liên kết với anh em đồng loại và phục vụ họ” (GS, số 67). Quả thật, lao động không chỉ hướng đến lợi ích cá nhân nhưng còn mang chiều kích xã hội và phục vụ cộng đồng dạy: “Người nam cũng như người nữ, khi lao động để kiếm sống cho bản thân và gia đình, đồng thời phục vụ cộng đồng cách thích hợp, có thể xác tín rằng họ đang tiếp tục công trình của Đấng Tạo Hóa” (GS, số 34). Giáo lý còn dạy: “Mỗi người phải có khả năng rút ra từ công việc những phương tiện để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời phục vụ cộng đồng nhân loại” (GLHTCG, số 2427).
Tinh thần phục vụ trong lao động còn được thể hiện qua cách ứng xử với đồng nghiệp và những người chung quanh. Đó là sự sẵn sàng giúp đỡ người gặp khó khăn, biết lắng nghe và tôn trọng người khác, đặt lợi ích chung trên những tính toán ích kỷ cá nhân. Một môi trường làm việc sẽ trở nên nhân văn hơn khi mỗi người biết phục vụ thay vì chỉ tìm kiếm quyền lợi cho riêng mình. Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo dạy rằng mọi hoạt động kinh tế và lao động phải nhằm phục vụ con người: “Lao động là cho con người chứ không phải con người cho lao động” (GLHTCG, số 2428).
Với tinh thần phục vụ trong lao động, người giáo dân được mời gọi: trước hết được thể hiện qua việc luôn đặt con người trên lợi nhuận, bởi con người là trung tâm của mọi hoạt động kinh tế và xã hội. Người Kitô hữu không chỉ quan tâm đến hiệu quả công việc hay lợi ích vật chất, nhưng còn chú trọng đến phẩm giá, quyền lợi và hạnh phúc của những người liên quan đến công việc của mình. Tinh thần Tin mừng còn được biểu lộ qua sự tôn trọng đồng nghiệp, bất kể địa vị, khả năng hay hoàn cảnh của họ. Mỗi người đều là hình ảnh của Thiên Chúa và xứng đáng được đối xử bằng sự công bằng, chân thành và yêu thương. Đồng thời, người Kitô hữu cũng được mời gọi quan tâm và nâng đỡ những người yếu thế, những người gặp khó khăn trong công việc hoặc trong cuộc sống, bằng sự cảm thông và những hành động cụ thể của tình liên đới. Chính qua những thái độ và hành động ấy, tinh thần phục vụ của Đức Kitô được hiện thực hóa trong đời sống lao động hằng ngày. Đây cũng là cách thức hữu hiệu để người Kitô hữu làm cho Tin mừng hiện diện giữa thế giới nghề nghiệp, trở thành chứng tá sống động về tình yêu, công lý và lòng thương xót của Thiên Chúa đối với mọi người.
* Tôn trọng phẩm giá con người
Một trong những cách thức cụ thể để người giáo dân hội nhập Tin mừng vào môi trường nghề nghiệp là biết tôn trọng phẩm giá của mỗi con người. Theo giáo huấn Kitô giáo, con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và được Đức Kitô cứu chuộc, vì thế mỗi người đều có một phẩm giá cao quý không thể bị xúc phạm hay coi thường. Tôn trọng phẩm giá con người không chỉ là một đòi hỏi của luân lý xã hội, mà còn là một bổn phận phát xuất từ đức tin. Một môi trường làm việc mang tinh thần Kitô giáo phải là nơi mọi người được đối xử bằng tình yêu và sự tôn trọng.
Thánh Gioan Phaolô II khẳng định rằng phẩm giá của lao động không hệ tại trước tiên ở sản phẩm hay lợi nhuận kinh tế, nhưng ở chính con người là chủ thể của lao động. Vì thế, giá trị của công việc phải được đánh giá dựa trên phẩm giá của người lao động và sự phát triển nhân bản mà lao động mang lại[8] Ngài nhấn mạnh: “Lao động có phẩm giá trước hết vì chính con người thực hiện lao động, chứ không phải vì loại công việc hay giá trị kinh tế mà công việc tạo ra.”[9] Công đồng Vaticanô II đã dạy: “Mọi điều xúc phạm đến phẩm giá con người… tất cả những gì vi phạm sự toàn vẹn của con người … đều là những điều ô nhục. Những điều ấy đầu độc nền văn minh nhân loại và xúc phạm đến Đấng Tạo Hóa” (GS số 27).
Vì thế, Người Kitô hữu cũng được mời gọi vượt qua mọi hình thức phân biệt đối xử dựa trên giới tính, tuổi tác, dân tộc, tôn giáo hay điều kiện xã hội. Trong ánh sáng Tin mừng, mọi người đều là anh chị em với nhau và đều có phẩm giá như nhau trước mặt Thiên Chúa. Chính vì thế, sự tôn trọng danh dự và nhân phẩm của đồng nghiệp phải được thể hiện qua lời nói, thái độ và cách cư xử hằng ngày. Theo tinh thần của Tin mừng, trong môi tường làm việc người Kitô hữu được mời gọi biết cư xử với đồng nghiệp bằng trái tim của lòng nhân ái, sự chân thành và tinh thần trách nhiệm, đặc biệt quan tâm đến những người yếu thế, những người gặp khó khăn trong công việc hoặc cuộc sống, sẵn sàng nâng đỡ và đồng hành với họ bằng những hành động cụ thể của tình liên đới. Đức Phanxicô đã nhắn nhủ: “Mỗi ngày chúng ta phải quyết định liệu mình sẽ là người Samari nhân hậu hay là những kẻ đi ngang qua.”[10]
3- Hội nhập Tin mừng vào bậc sống cụ thể
* Hôn nhân và gia đình: chứng tá sống động của lời Tin mừng
Công đồng Vaticanô II dạy rằng: “Trong gia đình, cha mẹ phải là những người đầu tiên rao giảng đức tin cho con cái bằng lời nói và gương sáng; họ phải giúp mỗi người theo đuổi ơn gọi riêng của mình” (LG 11). Thánh Giáo hoàng Phaolô VI đã nhấn mạnh: “Gia đình cũng như Hội thánh phải là nơi mà Tin mừng được truyền đạt và từ đó Tin mừng lan tỏa.”[11] Trong gia đình, trẻ em học biết cầu nguyện, học cách yêu thương, tha thứ, chia sẻ và sống theo các giá trị Tin mừng. Những bài học đức tin đầu tiên thường không đến từ lớp giáo lý hay nhà thờ, nhưng từ chính cách sống của cha mẹ và những người thân trong gia đình.
Gia đình loan báo Tin mừng trước hết qua chứng tá của tình yêu. Khi vợ chồng biết yêu thương và trung thành với nhau, khi cha mẹ biết hy sinh vì con cái, khi các thành viên biết tôn trọng, cảm thông và tha thứ cho nhau, thì chính đời sống ấy trở thành lời rao giảng sống động về tình yêu của Thiên Chúa. Một gia đình sống hiệp nhất và bình an là dấu chỉ hữu hình của Tin mừng giữa một xã hội đang chịu nhiều chia rẽ và khủng hoảng các mối tương quan. Chỉ có như thế gia đình mới thực sự trở thành tác nhân sống động của việc loan báo Tin mừng như lời Đức Phanxicô: “Gia đình không phải chỉ là đối tượng chăm sóc mục vụ nhưng còn là tác nhân của việc loan báo Tin mừng.”[12]
* Giới trẻ – nguồn năng lượng của Giáo hội trong việc chuyển tải Tin mừng
Giới trẻ không chỉ là tương lai của Hội thánh mà còn là hiện tại sống động của Hội thánh, Đức Phanxicô đã minh định: “Người trẻ không chỉ là tương lai của thế giới; họ còn là hiện tại của Thiên Chúa.”[13] Ngay từ hôm nay, người trẻ được mời gọi trở thành những môn đệ thừa sai, đem Tin mừng của Đức Kitô đến với mọi người bằng chính đời sống của mình. Đức Phanxicô khẳng định: “Các bạn trẻ có thể trở thành những nhà truyền giáo cho bạn bè mình và cho những người trẻ khác, bằng cách đi đến những nơi họ sinh sống, học tập, làm việc và vui chơi.”[14]
Trong bối cảnh xã hội hiện đại, người trẻ có nhiều cơ hội để loan báo Tin mừng. Họ hiện diện trong gia đình, trường học, môi trường làm việc, các hội đoàn và đặc biệt trên không gian mạng. Qua những lời nói chân thành, những việc làm bác ái, lối sống trung thực và tinh thần phục vụ, người trẻ có thể trở thành dấu chỉ sống động của tình yêu Thiên Chúa giữa thế giới hôm nay.
Ngày nay, mạng xã hội cũng trở thành một cánh đồng truyền giáo mới. Người trẻ có thể sử dụng Facebook, YouTube, TikTok hay các phương tiện truyền thông khác để chia sẻ những giá trị tích cực, những chứng từ đức tin và những thông điệp mang lại hy vọng. Khi biết sử dụng công nghệ cách khôn ngoan và có trách nhiệm, họ góp phần làm cho Tin mừng lan tỏa đến nhiều người hơn. Đức Bênêđictô XVI trong Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 43, được cử hành tại nhiều quốc gia vào ngày 24/5/2009 nhấn mạnh rằng: “các công nghệ truyền thông mới không chỉ là những công cụ kỹ thuật, nhưng đang hình thành những cách thức mới để con người gặp gỡ, trao đổi và xây dựng các mối tương quan. Vì thế, đặc biệt đối với giới trẻ – những người thuộc “thế hệ kỹ thuật số” – đây cũng là một môi trường quan trọng để sống các giá trị Tin mừng và làm chứng cho Đức Kitô trong thế giới hôm nay.[15]
* Người cao tuổi sống Tin mừng bằng chứng tá
Người cao tuổi dù không còn nhiều sức khỏe hay khả năng hoạt động như thời trẻ, các ngài vẫn có thể loan báo Tin mừng cách hiệu quả qua chính đời sống chứng tá của mình. Kinh nghiệm sống, sự khôn ngoan tích lũy qua năm tháng, lòng trung thành với đức tin và tinh thần cầu nguyện của người cao tuổi là những giá trị quý báu giúp thế hệ trẻ nhận ra sự hiện diện và tình yêu của Thiên Chúa. Tuổi già được mời gọi làm chứng cho niềm hy vọng nơi Chúa. Tuổi già trở thành một thời gian đặc biệt để thanh luyện đức tin trong sự chờ đợi cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa.”[16]
Đặc biệt, khi đối diện với bệnh tật, giới hạn và tuổi già, người cao tuổi vẫn có thể làm chứng cho Tin mừng bằng sự kiên trì, lòng tín thác và niềm hy vọng vào Chúa. Đức Phanxicô dạy: “Kinh nghiệm về sự yếu đuối và lệ thuộc của tuổi già có thể trở thành một trường học của đức tin.”[17] Cách các ngài đón nhận thập giá cuộc đời với đức tin trở thành một bài học sống động cho những người xung quanh về sức mạnh của Tin mừng, như Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã quả quyết: “Đau khổ được đón nhận trong đức tin có một giá trị cứu độ đặc biệt khi được kết hợp với cuộc Khổ nạn của Đức Kitô.”[18]
Kết:
Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong Tông huấn Christifideles Laici đã nói: “Giáo hội được trao phó một công trình có tầm mức lớn lao, có nhiều đòi hỏi và rất huy hoàng rực rỡ: công trình của cuộc phúc-âm-hóa mới mà thế giới ngày nay đang hết sức cần đến. Giáo dân phải cảm thấy mình có dự phần trong công trình này, được kêu gọi để loan báo và sống Tin mừng, bằng cách phục vụ con người và xã hội trong tất cả những gì là giá trị và đòi hỏi nơi cả hai”[19]. Ơn gọi của người giáo dân không tách rời khỏi thế gian nhưng được sai vào giữa thế gian để làm cho Tin mừng thấm nhập mọi thực tại của đời sống. Gia đình, nghề nghiệp, học đường, thương trường và xã hội chính là cánh đồng truyền giáo rộng lớn của người giáo dân.
Mỗi người giáo dân phải ý thức về bậc sống của mình để làm chứng tá cho Tin mừng như lời Công đồng Vaticanô II đã dạy: “Giáo dân được Thiên Chúa kêu gọi để góp phần thánh hóa thế giới như men từ bên trong” (LG, số 31). Do đó, không có người giáo dân nào được miễn trừ khỏi trách nhiệm làm chứng cho Đức Kitô. Mỗi người, tùy theo hoàn cảnh và khả năng của mình, đều được mời gọi trở thành ánh sáng và men Tin mừng giữa thế giới. Đức Thánh cha Phanxicô nhắc nhở: “Mỗi Kitô hữu là một nhà truyền giáo trong mức độ họ đã gặp gỡ tình yêu của Thiên Chúa nơi Đức Kitô Giêsu.”[20] Vì thế, việc ý thức về bậc sống của mình không chỉ giúp người giáo dân sống đúng căn tính Kitô hữu, mà còn giúp họ nhận ra con đường cụ thể để làm chứng cho Tin mừng.
* Hồi tâm:
1/ Trong môi trường sống hiện nay, đâu là những nơi tôi có thể thực hiện sứ mạng loan báo Tin mừng?
2/ Trong công việc hằng ngày, tôi có những cơ hội nào để làm chứng cho đức tin?
3/ Những thách đố nào trong môi trường nghề nghiệp hiện nay dễ làm cho tôi xa rời các giá trị Tin mừng?
4/ Làm thế nào để tôi vừa chu toàn công việc chuyên môn vừa trung thành với lương tâm Kitô giáo?
BÀI III – THÁNH HÓA LAO ĐỘNG: DÂNG NGÀY SỐNG NHƯ LỄ VẬT ĐẸP LÒNG CHÚA
PX. Nguyễn Thái
Trong nhịp sống hối hả của xã hội hôm nay, khi nói đến công việc hay lao động, người ta thường nghĩ ngay đến thu nhập, địa vị, sự ổn định hay thành công. Lao động được nhìn chủ yếu dưới lăng kính kinh tế: làm việc để kiếm sống, để xây dựng tương lai và bảo đảm cuộc sống cho bản thân cũng như gia đình. Điều đó hoàn toàn chính đáng, bởi lao động là phương thế Thiên Chúa ban để con người cộng tác vào việc chăm sóc đời mình và phục vụ xã hội.
Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở khía cạnh ấy, chúng ta sẽ dễ đánh mất chiều kích cao quý và thiêng liêng của lao động. Đối với đức tin Kitô giáo, công việc không đơn thuần là phương tiện tạo ra của cải vật chất, nhưng còn là con đường giúp con người thực hiện ơn gọi của mình trong chương trình yêu thương của Thiên Chúa.
Thông điệp Magnifica Humanitas (Nhân loại kỳ diệu) của Đức Thánh cha Lêô XIV nhấn mạnh rằng: “Công việc không chỉ là nguồn thu nhập mà còn là phương thức để con người tham gia vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa và xây dựng xã hội.” Nhờ lao động, con người không chỉ làm biến đổi thế giới nhưng còn được chính công việc biến đổi, trưởng thành hơn trong nhân đức, trách nhiệm và tình yêu.
Vì thế, đối với người Kitô hữu, mỗi công việc, dù lớn lao hay nhỏ bé, dù được nhiều người biết đến hay âm thầm kín đáo, đều có thể trở thành của lễ dâng lên Thiên Chúa. Khi được thực hiện với lòng yêu mến, sự tận tâm và ý hướng ngay lành, lao động trở thành lời cầu nguyện sống động, trở thành nơi gặp gỡ Thiên Chúa và phục vụ tha nhân.
1. Lao động là tham dự vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa
Ngay từ những trang đầu tiên của Kinh thánh, Thiên Chúa đã trao cho con người sứ mạng chăm sóc và phát triển thế giới Người tạo dựng: “Đức Chúa là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Êđen để cày cấy và canh giữ đất đai” (St 2,15).
Lao động vì thế không phải là một gánh nặng áp đặt từ bên ngoài, nhưng là một phần trong phẩm giá mà Thiên Chúa ban cho con người. Được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa là Đấng sáng tạo và không ngừng hoạt động vì sự sống, con người cũng được mời gọi sáng tạo, xây dựng và phục vụ qua công việc hằng ngày.
Mỗi người thợ, người nông dân, giáo viên, bác sĩ, kỹ sư, doanh nhân hay nhân viên văn phòng đều đang góp phần làm cho thế giới trở nên nhân bản hơn. Khi lao động với lương tâm ngay chính và tinh thần phục vụ, chúng ta đang cộng tác với Thiên Chúa trong việc tiếp tục công trình sáng tạo của Người.
2. Thánh hóa lao động bằng tình yêu và trách nhiệm
Trước khi thi hành sứ vụ công khai, Chúa Giêsu đã sống phần lớn cuộc đời tại Nazareth như một người thợ mộc bình dị. Ba mươi năm âm thầm ấy không phải là khoảng thời gian vô nghĩa, nhưng là lời khẳng định mạnh mẽ về giá trị thiêng liêng của lao động thường ngày. Người ta đã từng ngạc nhiên và hỏi nhau: “Ông này không phải là bác thợ, con bà Maria sao?” (Mc 6,3).
Chính trong xưởng mộc nhỏ bé ấy, Chúa Giêsu đã thánh hóa lao động bằng sự chăm chỉ, tận tụy và vâng phục thánh ý Chúa Cha. Người cho thấy rằng trước mặt Thiên Chúa không có công việc chân chính nào là tầm thường. Điều làm cho công việc trở nên cao quý không phải là danh tiếng hay tầm vóc của nó, nhưng là tình yêu và trách nhiệm được đặt vào đó. Thánh Têrêsa Calcutta từng nói: “Không phải tất cả chúng ta đều có thể làm những việc lớn lao, nhưng chúng ta có thể làm những việc nhỏ bé với tình yêu lớn lao.” Khi làm việc bằng tình yêu, lòng trung thực và tinh thần phục vụ, chúng ta không chỉ hoàn thành một nhiệm vụ nghề nghiệp mà còn góp phần xây dựng Nước Chúa giữa lòng thế giới hôm nay.
3. Dâng lao động như lễ vật đẹp lòng Chúa
Trong mỗi Thánh lễ, bánh và rượu được dâng lên bàn thờ để trở nên Mình và Máu Đức Kitô. Bánh và rượu ấy chính là thành quả của công lao con người. Hình ảnh đó nhắc chúng ta rằng mọi lao động chân chính đều có thể được kết hợp với hy lễ cứu độ của Đức Kitô. Thánh Phaolô mời gọi: “Anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa” (Rm 12,1).
Khi bắt đầu ngày mới bằng một lời nguyện đơn sơ, khi vui tươi đón nhận trách nhiệm, khi kiên nhẫn vượt qua khó khăn, thất bại, chúng ta đang âm thầm đặt tất cả lên bàn thờ cuộc sống. Những giọt mồ hôi, sự hy sinh và lòng trung tín của Kitô hữu trở thành của lễ thiêng liêng dâng lên Thiên Chúa và sinh ích cho nhiều tâm hồn.
4. Chứng tá trong đời sống
Nhìn lại hành trình nghề nghiệp của mình, tôi nhận ra tất cả đều bắt đầu từ một cơ duyên rất đơn sơ với âm nhạc. Dù chỉ được học nhạc trong những năm thiếu niên và khởi đầu từ một cửa hàng nhỏ, tôi cảm nhận rõ bàn tay quan phòng của Thiên Chúa đã từng bước dẫn dắt mình đi vào lĩnh vực kinh doanh liên quan đến âm nhạc.
Qua những năm tháng làm việc và những giây phút được ở bên Chúa, tôi học được một bài học quý giá: không có nghề nghiệp nào tự nó cao trọng hay thấp kém trước mặt Chúa. Mỗi công việc đều mang trong mình một giá trị riêng và đều có thể trở thành khí cụ để Thiên Chúa thực hiện chương trình yêu thương của Người.
Khi ý thức điều đó, tôi không còn xem công việc như một gánh nặng phải mang, nhưng như một ơn gọi được trao phó. Tôi hiểu rằng nghề nghiệp chỉ là phương tiện; điều Thiên Chúa mong đợi nơi Kitô hữu là biết thánh hóa công việc bằng sự tận tâm, trung thực và tinh thần trách nhiệm.
Nhờ đó, văn phòng, cửa hàng, lớp học hay công ty không còn đơn thuần là nơi làm việc, nhưng trở thành không gian gặp gỡ Thiên Chúa. Tôi dần nhận ra rằng giá trị thiêng liêng của công việc không hệ tại ở quy mô hay thành tựu bên ngoài, nhưng ở tình yêu được đặt vào từng việc làm.
Mỗi sáng thức dậy, trước khi bắt đầu công việc, tôi thường dâng ngày sống cho Chúa. Tôi trao cho Người những dự định, niềm vui, thành công, cả những khó khăn, mệt nhọc, thất bại và hiểu lầm. Khi kết hợp tất cả với thập giá Đức Kitô, tôi tin rằng những điều bình dị ấy không còn vô nghĩa, nhưng trở thành của lễ nhỏ bé được dâng lên Thiên Chúa vì phần rỗi các linh hồn.
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con biết chu toàn công việc hằng ngày với tâm tình yêu mến, kết hợp với Chúa, để từng giây phút vất vả trên đường đời trở nên lễ vật đẹp lòng Chúa, đem lại bình an cho tâm hồn và ích lợi cho tha nhân. Amen.
* Hồi tâm
1/ Giữa một thế giới thường đo giá trị lao động bằng tiền bạc và thành công, Kitô hữu được mời gọi khám phá ý nghĩa sâu xa hơn của công việc, đó là điều gì; bạn đã ý thức và thực hiện ra sao?
2/ Lao động là quà tặng Thiên Chúa ban, bạn làm thế nào để cộng tác vào công trình sáng tạo, phục vụ tha nhân và là con đường nên thánh giữa đời thường?
3/ Làm sao để những công việc bình dị nhất cũng trở thành lễ vật đẹp lòng Thiên Chúa?
BÀI IV – ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP VÀ TRÁCH NHIỆM CÔNG DÂN ĐƯỢC SOI DẪN BỞI ĐỨC TIN
Lm. Giuse Nguyễn Ngọc Ngoạn
Trong bối cảnh xã hội hôm nay, vấn đề đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm công dân đang trở thành mối quan tâm lớn. Ở nhiều nơi, trong đó có Việt Nam, chúng ta chứng kiến không ít biểu hiện của sự xuống cấp về đạo đức: lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích riêng trên lợi ích chung, chạy theo thành công và vật chất bằng mọi giá. Những hiện tượng như gian lận trong học tập và nghề nghiệp, thiếu trách nhiệm trong công việc, tham nhũng, tiêu cực, sản xuất hàng giả, vi phạm an toàn thực phẩm hay lạm dụng quyền lực vẫn đang làm tổn thương xã hội và làm xói mòn niềm tin giữa con người với nhau.
Điều đáng suy nghĩ là ngay cả người Kitô hữu cũng có nguy cơ rơi vào tình trạng “tin mà không sống”, tách rời đức tin khỏi đời sống thường ngày. Đức tin chỉ thực sự có ý nghĩa khi được thể hiện bằng những chọn lựa và hành động cụ thể trong gia đình, nơi làm việc và ngoài xã hội.
Mỗi Kitô hữu vừa là người hành nghề trong một lĩnh vực chuyên môn, vừa là công dân của đất nước. Vì thế, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm công dân không chỉ là đòi hỏi của pháp luật hay của xã hội, nhưng còn là một bổn phận phát xuất từ chính đức tin Kitô giáo. Đức tin giúp chúng ta nhìn công việc như một ơn gọi, nhìn tha nhân như anh chị em, và nhìn xã hội như môi trường để thi hành sứ mạng làm chứng cho Tin mừng.
Đối với xã hội, đạo đức nghề nghiệp là hệ thống những chuẩn mực và nguyên tắc hướng dẫn con người trong khi hành nghề. Người có đạo đức nghề nghiệp là người trung thực, công bằng, tận tâm, tôn trọng sự thật, chu toàn trách nhiệm và luôn đặt phẩm giá con người lên trên lợi ích vật chất. Song song với đó, trách nhiệm công dân là ý thức và hành động nhằm góp phần xây dựng đất nước qua việc tôn trọng pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn của công, tích cực tham gia các hoạt động vì cộng đồng và xây dựng một xã hội văn minh, công bằng.
Đối với người Kitô hữu, những giá trị ấy được nâng lên một chiều kích sâu xa hơn nhờ ánh sáng của đức tin. Đức tin không chỉ giúp phân biệt điều thiện với điều ác, nhưng còn thúc đẩy chúng ta sống theo tiếng nói của lương tâm ngay chính và noi gương Đức Kitô trong tình yêu phục vụ.
Công đồng Vaticanô II khẳng định: “Công trình cứu chuộc của Chúa Kitô cốt yếu nhằm việc cứu rỗi nhân loại, nhưng cũng bao hàm việc canh tân tất cả trật tự trần thế. Do đó sứ mệnh của Giáo hội không những là đem Phúc âm của Chúa Kitô và ân sủng của Người cho nhân loại, mà còn đem tinh thần Phúc âm thấm nhuần và hoàn thiện những thực tại trần thế” (Sắc lệnh Tông đồ Giáo dân, số 5).
Lời dạy ấy nhắc chúng ta rằng người Kitô hữu không sống đức tin tách biệt với đời sống xã hội. Trái lại, chính giữa công việc hằng ngày, chúng ta được mời gọi đem tinh thần Tin mừng thấm nhập vào mọi hoạt động của mình. Vì thế, mỗi nghề nghiệp đều có thể trở thành con đường nên thánh. Người bác sĩ phục vụ bệnh nhân với lương tâm nghề nghiệp; người giáo viên tận tụy đào tạo thế hệ trẻ; người công nhân lao động trung thực; người doanh nhân kinh doanh bằng sự công bằng; người cán bộ thi hành công vụ với tinh thần liêm chính… Tất cả đều đang cộng tác vào công trình sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa khi chu toàn bổn phận với lòng yêu mến.
Đức tin mời gọi chúng ta làm việc không chỉ vì đồng lương hay danh vọng, nhưng vì muốn chu toàn thánh ý Chúa. Nhờ đó, chúng ta biết tránh gian dối, tham lam, tham nhũng, lạm dụng quyền lực và mọi hình thức bất công. Chúa Giêsu đã khẳng định: “Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14,6). Người môn đệ của Chúa không thể sống trái với sự thật.
Đức tin cũng giúp chúng ta biết trân trọng phẩm giá của mọi con người, vì mỗi người đều được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Noi gương thánh Têrêsa Calcutta, chúng ta học biết nhận ra khuôn mặt Đức Kitô nơi người nghèo, người đau khổ và những người bị bỏ rơi. Khi biết tôn trọng phẩm giá con người, chúng ta sẽ biết sống công bằng, nhân ái và có trách nhiệm hơn trong nghề nghiệp cũng như trong các tương quan xã hội.
Bên cạnh đó, đức tin còn soi sáng trách nhiệm công dân. Người Kitô hữu được mời gọi tích cực xây dựng xã hội bằng những việc làm cụ thể: yêu quê hương đất nước, tôn trọng và thi hành pháp luật phù hợp với chân lý và công ích, bảo vệ môi trường, góp phần gìn giữ hòa bình, tham gia các hoạt động bác ái và quan tâm đến những người yếu thế. Tất cả những việc làm ấy đều là những cách thức cụ thể để sống giới răn yêu thương.
Để có thể chu toàn sứ mạng ấy, mỗi người cần không ngừng nuôi dưỡng đời sống đức tin bằng việc cầu nguyện, học hỏi Lời Chúa, tìm hiểu giáo lý và giáo huấn của Hội thánh, thường xuyên xét mình và biết phân định theo lương tâm ngay chính. Đồng thời, chúng ta cũng cần trau dồi năng lực chuyên môn, nâng cao tinh thần trách nhiệm và luôn cố gắng trở thành những chứng nhân của Tin mừng ngay trong chính môi trường làm việc và đời sống xã hội.
Khi đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm công dân được soi sáng bởi đức tin, công việc hằng ngày không còn chỉ là phương tiện mưu sinh, nhưng trở thành con đường phục vụ Thiên Chúa và tha nhân. Nhờ đó, mỗi người góp phần xây dựng một xã hội công bằng, nhân ái và phát triển bền vững, đồng thời làm cho tình yêu của Thiên Chúa được tỏa sáng giữa lòng thế giới,
Hồi tâm
1/ Trong công việc hằng ngày, tôi có luôn sống trung thực, công bằng và tận tâm như một người Kitô hữu, hay tôi vẫn dễ dàng thỏa hiệp với gian dối và lợi ích cá nhân?
2/ Đức tin của tôi có thực sự hướng dẫn cách tôi sống trách nhiệm với gia đình, nghề nghiệp và xã hội, hay chỉ dừng lại ở việc tham dự các sinh hoạt tôn giáo?
3/ Tôi sẽ thực hiện một việc làm cụ thể nào để sống đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm công dân như một chứng tá của Tin mừng?
——————
[1] Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolo II – Tông huấn Christifideles Laici, số 15.
[2] Nt, số 33.
[3] Văn kiện chung kết của Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới, số 66.
[4] Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolo II – Tông huấn Christifideles Laici, số 34.
[5] Đức Lêô XIV, Thông điệp Magnificat Humanitas, số 10.
[6] Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolo II – Tông huấn Christifideles Laici, số 38.
[7] X. Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Caristatis in Veritate, số 2, số 36.
[8] X. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Laborem Exercens, số 6 và số 9.
[9] Nt, số 6.
[10] Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti, số 69.
[11] Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi, số 71.
[12] Đức Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia, số 200.
[13] Đức Phanxicô, Tông huấn Christus Vivit, số 178.
[14] Nt, số 177.
[15] Nguồn: https://www.fides.org/en/news/21465-VATICAN_Pope_entrusts_the_youth_with_the_task_of_evangelizing_the_digital_continent_in_his_Message_for_the_43rd_World_Comm
[16] Đức Phanxicô, Bài Giáo lý về tuổi già, ngày 11/5/2022.
[17] Nt.
[18] X. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolo II, Tông thư Salvifici Doloris (1984), số 19-24.
[19] Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolo II, Tông huấn Christifideles Laici, số 64.
[20] Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium, số 120.
TAGS:
THƯỜNG HUẤN GIÁO DÂN







































