Lưu trữ

GIÁO HỘI ĐÔNG PHƯƠNG

CÁC GIÁO HỘI ĐÔNG PHƯƠNG LÀ KHO TÀNG CỦA TOÀN THỂ GIÁO HỘI - DIỄN VĂN CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV GỬI CÁC THAM DỰ VIÊN CUỘC HỌP CỦA LIÊN HIỆP CÁC CƠ QUAN TRỢ GIÚP CÁC GIÁO HỘI ĐÔNG PHƯƠNG

CÁC GIÁO HỘI ĐÔNG PHƯƠNG LÀ KHO TÀNG CỦA TOÀN THỂ GIÁO HỘI – DIỄN VĂN CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV GỬI CÁC THAM DỰ VIÊN CUỘC HỌP CỦA LIÊN HIỆP CÁC CƠ QUAN TRỢ GIÚP CÁC GIÁO HỘI ĐÔNG PHƯƠNGChuyển ngữ: Nữ tu Maria Hoài Ân

19/06/2026

WHĐ (19/6/2026) – Trưa ngày 18/6/2026, tiếp các tham dự viên Đại hội toàn thể thường niên của Liên hiệp các Cơ quan Trợ giúp các Giáo hội Đông phương (ROACO), Đức Thánh cha Lêô XIV nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo các thừa tác viên trong các Giáo hội Công giáo Đông phương và mời gọi gia tăng hiểu biết, trân trọng các truyền thống Đông phương. Đồng thời, ngài lên án chiến tranh và tình trạng bất ổn đang làm suy yếu các xã hội, buộc nhiều Kitô hữu Đông phương phải rời bỏ quê hương của mình.

DIỄN VĂN CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV

GỬI CÁC THAM DỰ VIÊN CUỘC HỌP
CỦA HIỆP HỘI CÁC CƠ QUAN HỖ TRỢ CÁC GIÁO HỘI ĐÔNG PHƯƠNG (ROACO)

Hội trường Clementina
Thứ Năm, ngày 18 tháng 6 năm 2026

[Đa phương tiện]

Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần.

Bình an cho anh chị em!

Thưa Đức Hồng y,
Thưa quý Đức Cha,
Quý linh mục, tu sĩ nam nữ thân mến,

Tôi hân hoan chào đón tất cả anh chị em! Tôi vui mừng được gặp anh chị em vào dịp kết thúc khóa họp đại hội thường niên của anh chị em. Tôi gửi lời chào đến Đức Hồng y Gugerotti, Tổng trưởng, các vị Bề trên khác và các viên chức của Bộ các Giáo hội Đông phương, đặc biệt là anh chị em, những thành viên của các cơ quan thuộc ROACO.

Ngoài công việc liên quan đến các dự án hỗ trợ các Giáo hội Công giáo Đông phương, vốn là lý do chính của cuộc gặp gỡ này, tôi được biết lần này anh chị em đã tập trung thảo luận về một chủ đề cụ thể: việc đào tạo các giáo sĩ và đan sĩ tại các chủng viện và học viện Đông phương.

Tôi cho rằng đây là một lựa chọn rất khôn ngoan. Thực vậy, hỗ trợ một Giáo hội không chỉ có nghĩa là cung cấp cho Giáo hội ấy những phương tiện vật chất để tồn tại, nhưng còn là giúp Giáo hội tăng trưởng trong căn tính và khả năng loan báo Tin mừng của mình. Hai điều này được xây dựng trên nền tảng việc đào tạo những thừa tác viên được mời gọi phổ biến các kho tàng thiêng liêng của Giáo hội mình. Các cộng đoàn Công giáo Đông phương đang gìn giữ nhiều kho tàng như thế và chia sẻ chúng với anh chị em thuộc các Giáo hội Chính thống. Đúng vậy, các Giáo hội Công giáo Đông phương có một hồng ân lớn lao để trao tặng cho toàn thể cộng đồng Công giáo, vốn thường chưa nhận thức đầy đủ về sự phong phú của các truyền thống Giáo hội khác nhau đang hiện diện trong chính Giáo hội.

Vì thế, Mẹ Giáo hội của chúng ta là duy nhất nhưng không đồng nhất; cung lòng phong nhiêu của Mẹ Giáo hội đã sinh ra nhiều truyền thống thiêng liêng và thần học khác nhau, cũng như nhiều nghi lễ và kỷ luật khác nhau, tất cả đều làm phong phú lẫn nhau. Thật tốt đẹp khi chúng ta cùng với hàng triệu anh chị em Công giáo Đông phương đào sâu hơn nữa những kho tàng ấy, đồng thời hướng tới sự tiến triển trên con đường hiệp nhất trọn vẹn với tất cả các Giáo hội Đông phương.

Thật vậy, tất cả các Giáo hội Đông phương cổ kính đều đưa chúng ta trở về với nguồn cội của đức tin. Các Giáo hội ấy làm cho ánh sáng ân sủng tỏa rạng qua những cử hành phụng vụ thấm đượm tính thánh thiêng; biểu lộ trong việc phụng thờ và ca tụng mầu nhiệm Thiên Chúa, Đấng đáng được tôn thờ; làm chứng cho sức mạnh của lời cầu nguyện chuyển cầu; trao tặng những kho tàng thiêng liêng làm cho tâm hồn tràn ngập niềm kinh ngạc và lòng biết ơn trước vẻ đẹp mà chúng biểu lộ.

Các Giáo hội ấy cũng giúp các tín hữu diễn tả lời cầu nguyện của mình theo những đặc điểm thần học và nhân học phù hợp nhất với từng truyền thống. Chính vì thế, Công đồng Vatican II đã nhận định về Kitô giáo Đông phương và Tây phương rằng: “Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi đôi khi một truyền thống này đã tiến gần hơn truyền thống kia trong việc nhận thức đầy đủ một số khía cạnh của mầu nhiệm mặc khải, hoặc đã diễn tả những khía cạnh ấy cách thích hợp hơn. Trong những trường hợp như thế, những cách diễn đạt thần học khác nhau ấy thường phải được xem là bổ túc cho nhau hơn là đối nghịch nhau” (Unitatis Redintegratio, số 17).

Phương Đông Kitô giáo chỉ có thể được bảo tồn nếu được hiểu biết; đánh mất sự hiểu biết ấy là làm nghèo đi chính Giáo hội. Nhưng để hiểu biết và yêu mến kho tàng đó, chúng ta cần đầu tư cho việc đào tạo. Hơn ba mươi năm trước, Thánh Gioan Phaolô II đã chỉ ra nhu cầu này khi đặc biệt nhấn mạnh, cùng với nhiều điều khác, sự cần thiết phải “hiểu biết phụng vụ của các Giáo hội Đông phương; đào sâu … sự hiểu biết về các truyền thống thiêng liêng của các Giáo phụ và các Tiến sĩ của Kitô giáo Đông phương; … cung cấp việc giảng dạy thích hợp về những vấn đề này trong các chủng viện và phân khoa thần học, đặc biệt cho các linh mục tương lai” (Tông thư Orientale Lumen, số 24).

Chính vì thế, quyết định của anh chị em trong việc góp phần thúc đẩy công tác đào tạo các thừa tác viên thánh, qua việc lắng nghe các chuyên gia tận tâm trong lãnh vực này, như anh chị em đã thực hiện trong những ngày vừa qua, là một dấu chỉ đẹp về sự quan tâm cụ thể của anh chị em đối với các Giáo hội này.

Tuy nhiên, mối liên kết giữa tri thức và bác ái, giữa những khối óc rộng mở và những đôi tay dấn thân phục vụ, cũng đòi hỏi một chiều kích thiêng liêng: một trái tim không chỉ quảng đại mà còn được tràn đầy ân sủng và bừng cháy nhờ Chúa Thánh Thần. Vì thế, để những nỗ lực của anh chị em, vốn được thực hiện với biết bao dấn thân và tận tụy, đạt được kết quả tốt đẹp, tôi muốn khuyến khích anh chị em luôn nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của mình, đặc biệt qua việc cầu nguyện không ngừng và tham dự các bí tích. Thật vậy, những việc lành sẽ không sinh hoa trái bền vững nếu không được nuôi dưỡng từ nguồn mạch của mọi điều thiện hảo, là chính Thiên Chúa. Nếu đúng là “đức tin không có việc làm là đức tin chết”, như chúng ta đọc trong thư Thánh Giacôbê (Gc 2,26), thì cũng đúng rằng những việc làm không được nâng đỡ bởi một đức tin sống động sẽ không sinh hoa kết quả.

Anh chị em thân mến, khi nhìn anh chị em và suy nghĩ về công việc phục vụ âm thầm nhưng đầy thiện tâm mà anh chị em đang thực hiện, cũng như về biết bao ân nhân, những người qua anh chị em chuyển trao các nguồn lực đến cho những người đang cần giúp đỡ, tôi không thể không nghĩ đến biết bao tiền của đang bị lãng phí cho việc giết chóc trong giai đoạn đen tối này của lịch sử, bị phung phí bởi những kẻ kích động chiến tranh. Trong khi anh chị em tạo dựng sự sống, họ gieo rắc sự chết; trong khi anh chị em đưa tay đến với người anh em của mình, họ lại tìm kiếm những kẻ thù để tiêu diệt; trong khi anh chị em kiến tạo đối thoại, họ theo đuổi những độc thoại; trong khi anh chị em mở ra những con đường hy vọng, họ giam hãm con người trong sợ hãi; trong khi anh chị em xây dựng tương lai, họ phá hủy hiện tại.

Làm sao chúng ta có thể không nghĩ đến cuộc di cư đau thương của các Kitô hữu Đông phương khỏi chính quê hương của họ, trước hết do chiến tranh gây nên, điều mà, như tôi vẫn nhắc lại, không giải quyết được vấn đề nào nhưng chỉ tạo ra những thảm kịch, những thảm kịch thường bị rơi vào quên lãng? Có một căn bệnh, một tai họa do chiến tranh sinh ra, mà hôm nay tôi muốn nói đến, một tai họa đang tiếp tục rút cạn sinh lực của các Giáo hội Đông phương nói riêng. Tôi gọi nó bằng một từ duy nhất: sự bất ổn.

Khi một người đến thăm một quốc gia đã từng trải qua xung đột nhưng nay những biến cố ấy dường như đã chìm vào quên lãng, thoạt nhìn mọi sự có thể xem ra yên bình, dù vẫn còn mang những vết thương sâu đậm của các thảm kịch trong quá khứ. Tuy nhiên, các xã hội ấy bị suy yếu bởi tình trạng bất ổn của các thể chế, bởi sự hiện diện của các băng nhóm vũ trang chia cắt lãnh thổ và bởi một hệ thống chính trị chịu ảnh hưởng, thậm chí không ít lần bị thao túng bởi các tác nhân và lợi ích bên ngoài. Một hệ thống như thế không hành động cách tự do, nhưng phải lần mò trong mê cung của những mưu toan, những thỏa thuận ngầm và những lợi ích phe nhóm. Hệ quả là một vòng xoáy bất ổn triền miên được tạo ra, bóp nghẹt các cơ hội phát triển và luôn đổ gánh nặng nặng nề nhất lên người nghèo.

Vì thế, tại nhiều quốc gia, nỗi sợ hãi và cảm giác bất an bao trùm khắp nơi: công việc làm trở nên bấp bênh, tiền lương không được trả đều đặn, hệ thống y tế, nếu còn hoạt động, cũng chỉ vận hành cách chập chờn, còn việc giáo dục vẫn ở trong tình trạng mong manh. Tất cả những điều đó gây tổn hại cho người dân bình thường, cho các gia đình, trẻ em và người trẻ, người cao tuổi và người đau yếu. Đây là một thảm kịch đè nặng trên tâm hồn mọi người, bào mòn hy vọng và khiến việc xây dựng tương lai trở nên bất khả thi; vì thế nhiều người buộc phải ra đi, như trường hợp của rất nhiều anh chị em cùng đức tin với chúng ta, đặc biệt tại Trung Đông.

Một lần nữa, tôi muốn kêu gọi mọi người suy tư về những hậu quả của chiến tranh và tình trạng bất ổn, cũng như về trách nhiệm ngăn ngừa chúng bằng những quyết định khôn ngoan và có trách nhiệm. Bởi lẽ đó không phải là kết quả của một số phận tất yếu, nhưng là hệ quả của những lựa chọn tự do, và vì thế là những hành động phải chịu trách nhiệm về mặt luân lý. Lịch sử cho thấy những mưu đồ của bạo lực và áp bức, của quyền lực và thống trị, của những lợi lộc đạt được mà không có công lý và không có lương tâm, cuối cùng đều quay lại chống chính những người theo đuổi chúng, chứ không chỉ những người phải gánh chịu chúng. Chúng ta hãy cầu xin Chúa Giêsu, Chúa của bình an, và hãy đánh động lương tâm con người để họ biết phẫn nộ trước những điều ấy; đồng thời, ước gì lòng tôn trọng con người và ý thức đúng đắn về một nền văn minh cần được phục hồi!

Tôi chân thành cảm ơn anh chị em và biết bao ân nhân đang tiếp tục dấn thân, nhân danh Tin mừng, để khắc phục những tình trạng vô nhân đạo ấy. Tôi ban phép lành cho anh chị em, những người anh chị em thân mến, và khích lệ anh chị em kiên trì trong đức ái mà không nản lòng, được nâng đỡ bởi niềm hy vọng nơi Đức Kitô.

Xin cảm ơn anh chị em.

Chuyển ngữ từ: vatican.va

Related Articles

Back to top button