DI DÂN VÀ SỨ VỤ TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO TẠI ĐÀI LOAN
21/03/2026
DẪN NHẬP
Trong tập sách Di dân Việt Nam tại châu Á do Trung tâm Asian Research for Religion and Social Communication (Trung tâm Nghiên cứu châu Á về Tôn giáo và Truyền thông Xã hội) của đại học St. John, Thái Lan xuất bản năm 2020, tôi có đóng góp một chương ngắn viết về Mục vụ di dân của Giáo hội tại Đài Loan. Nội dung của chương này chủ yếu miêu tả hiện tượng di dân của nhiều quốc gia đến Đài Loan trong đó có Việt Nam vào những năm cuối 1990 và đầu những năm 2000.
Hiện tượng di dân này đã tạo nên nhiều vấn đề nhức nhối trong xã hội Đài Loan, và nhất là nhiều sự bất công xảy đến cho người lao động khiến Hội đồng Giám mục tại Đài Loan phải viết hai lá thư mục vụ gửi đến chính phủ và nhân dân Đài Loan, nhằm bênh vực nhân phẩm và đòi hỏi quyền lợi cho họ. Đặc biệt trong hai lá thư này, các giám mục Đài Loan đã kêu gọi các giáo phận, các cộng đoàn dòng tu, các giáo xứ và giáo dân Đài Loan có những hành động cụ thể nhằm đón nhận và chăm sóc tinh thần cho người nhập cư. Đặc biệt trong chương sách này, chúng tôi đã cung cấp nhiều chi tiết miêu tả sự hưởng ứng của các cá nhân và các cộng đoàn, nhất là các tu sĩ người Việt đang truyền giáo tại Đài Loan, họ đã đóng góp nhiều công sức trong việc đồng hành, đón nhận và hướng dẫn các công dân, nhằm giúp họ có một môi trường làm việc an toàn hơn, được tôn trọng hơn.[1]
Trong tập sách này, chúng tôi dự định lựa chọn một chủ đề mới, đề tài này nhấn mạnh đến hiện tượng “di dân” của các linh mục và tu sĩ của người Việt đến Đài Loan. Trong dự án này chúng tôi sẽ dành phần lớn thời gian miêu tả công việc truyền giáo của họ trên hòn đảo ngọc này, không chỉ nhắm vào người lao động nhưng nhắm vào việc mục vụ và truyền giáo cho người địa phương. Vì thế, chương sách này sẽ gồm 3 phần chủ yếu; trước tiên, sẽ giới thiệu sơ lược về đất nước và con người Đài Loan. Phần tiếp sau sẽ đề cập đến lịch sử truyền giáo của Giáo hội Công giáo trên đất nước này. Cuối cùng chương này sẽ giới thiệu câu chuyện của những nhà truyền giáo người Việt và những công việc truyền giáo mà họ đã và đang thực hiện, nhằm giúp nhiều người nhận biết Tin mừng của Thiên Chúa.
I. VÀI NÉT VỀ ĐÀI LOAN
1. Địa lý, lịch sử và kinh tế
Đài Loan được biết đến với tên gọi là Trung Hoa Dân Quốc, hay còn gọi là Formosa, nghĩa là hòn đảo ngọc, do các nhà truyền giáo đặt vào những năm đầu thế kỷ 17. Đài Loan là một hòn đảo nhiệt đới ở Đông Á, cách Trung Quốc 100 hải lý về phía đông, cách Philippines 200 hải lý về phía nam, và quần đảo Trường Sa của Việt Nam 900 hải lý. Phía Bắc của Đài Loan lại được kết nối với quần đảo Ryukyu, và nằm cách quần đảo chính của Nhật Bản 700 hải lý.[2] Đài Loan là một đất nước có những ngọn núi cao tới 4.000 mét và có gần 24 triệu cư dân.
Tương quan chính trị với Trung Quốc đại lục là một trong những nguyên nhân khiến tình hình giao lưu quốc tế của Đài Loan với các nước khác bất ổn, thậm chí có lúc rất phức tạp. Cuộc nội chiến giữa Mao Trạch Đông và quân đội Tưởng Giới Thạch từ những năm 1945 đến 1949 khốc liệt khiến quân đội của Tưởng Giới Thạch thất bại và chạy đến nơi ẩn náu trên đảo Formosa, và nơi đây ông tuyên bố Đài Bắc là thủ đô mới của Trung Hoa Dân Quốc.
Sau khi nắm quyền tại Đài Loan, Tưởng Giới Thạch áp dụng chính sách quản lý chặt chẽ việc xuất nhập cảnh, nhằm hạn chế làn sóng di cư từ đại lục. Trong giai đoạn từ những năm 1950 đến 1970, người dân Đài Loan không được tự do ra nước ngoài. Nếu có nhu cầu đi nước ngoài, ngoài hộ chiếu, họ còn phải xin thêm giấy “chấp thuận” của Chính phủ.[3]
Về phần chính sách đối ngoại của Đài Loan, vào những năm 1980, việc đi lại của người Đài Loan trở nên dễ dàng hơn, khi chính phủ bắt đầu nới lỏng việc quản lý người xuất ngoại và tiếp nhận người nước ngoài vào Đài Loan. Kể từ lúc đó, người Đài Loan bắt đầu di cư qua Mỹ, Canađa và nhiều nước châu Âu. Các doanh nghiệp cũng bắt đầu mở rộng đầu tư sang Trung Quốc và nhiều quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Cũng trong thời gian này nhiều người nước ngoài cũng bắt đầu đến Đài Loan làm việc.[4] Vào tháng 10 năm 1989, Bộ Lao động Đài Loan đã ký quyết định cho phép tuyển dụng lao động nước ngoài để đáp ứng nhu cầu lao động cho mười bốn dự án cơ sở hạ tầng quan trọng của quốc gia. Nhờ đó, người nước ngoài đã được tuyển dụng vào Đài Loan như một phần trong nỗ lực của chính phủ nhằm giải quyết vấn đề thiếu hụt lao động.[5]
Vào năm 1994, lần đầu tiên chính phủ Đài Loan công bố một “Chính sách hướng nam”[6] với quyết định hướng đến các nước Đông Nam Á, chủ yếu là Thái Lan, Phillipines, Indonesia và Việt Nam để tìm kiếm nguồn lao động. Việc Đài Loan chọn công nhân đến từ các nước này là vì họ có nhiều điểm tương đồng về văn hóa và phong tục tập quán, đồng thời họ chấp nhận làm việc trong những môi trường được cho là có nhiều thử thách và nguy hiểm cao.[7]
Được Tổng thống Thái Anh Văn công bố vào năm 2016, Chính sách hướng nam mới của Đài Loan (Taiwan’s New Southbound Policy) đã tạo ra những con số ấn tượng chỉ trong hai năm. Chính sách này có mục đích thúc đẩy quan hệ kinh tế và thương mại với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và làm sâu sắc hơn mối tương quan với các nước đối tác bằng việc tăng cường hợp tác kinh tế, trao đổi nhân tài, chia sẻ tài nguyên và kết nối khu vực. Thương mại giữa Đài Loan và 18 quốc gia đối tác lên tới 117,1 tỷ USD trong năm 2018, tăng 22% so với năm 2016. 18 nước đối tác, gồm 10 thành viên Đông Nam Á, trong đó có Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam, cùng với Úc, Bangladesh, Bhutan, Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Sri Lanka và New Zealand.[8]
2. Ngôn ngữ của người Đài Loan
Ngôn ngữ chính của người Đài Loan là tiếng Quan Thoại, một ngôn ngữ được sử dụng nhiều ở Bắc Kinh và nó được chọn trở thành ngôn ngữ chính ở Đài Loan. Tiếng Quan Thoại còn được gọi là tiếng phổ thông, là thứ ngôn ngữ phổ biến nhất trong cộng đồng người Hoa. Về cách viết, tiếng Hoa là một ngôn ngữ tượng hình, rất phức tạp, cho nên khi lên nắm chính quyền Mao Trạch Đông đã đổi thành từ ngữ giản thể để sử dụng trong Trung Quốc đại lục. Riêng người Đài Loan, họ vẫn giữ nguyên tiếng Hoa dạng phồn thể để bảo tồn ý nghĩa nguyên gốc của ngôn ngữ.
Ở Đài Loan, với những người lớn tuổi họ còn có phương ngữ riêng, ngôn ngữ này được sử dụng trong cộng đồng người Hoa ở tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Từ triều đại nhà Minh, nhóm người Phúc Kiến này di cư sang Đài Loan và mang theo ngôn ngữ của mình. Bên cạnh tiếng Quan Thoại và tiếng Phúc Kiến, còn một phương ngữ khác gọi là tiếng Hakka, ta gọi là tiếng Hẹ, được sử dụng phổ biến trong cộng đồng người Hakka cũng có nguồn gốc từ Trung Quốc. Trong vài thập niên gần đây, chính phủ Đài Loan đẩy mạnh chính sách đa sắc tộc, đa văn hóa nên nhiều ngôn ngữ khác như tiếng Anh, tiếng Việt, tiếng Tagalog, tiếng Thái và tiếng Indonesia cũng được dạy trong các trường học.
3. Tư duy, triết lý sống và tôn giáo của người Đài Loan
Về tư duy và triết lý sống, người Đài Loan chịu ảnh hưởng sâu đậm của tư tưởng Khổng giáo, Nho giáo và Phật giáo. Truyền thống đạo đức và quy tắc luân lý của các đạo này giúp duy trì trật tự trong cuộc sống cá nhân, gia đình và xã hội. Tuy nhiên, hiện nay xã hội Đài Loan đã bắt đầu chịu ảnh hưởng sâu đậm của trào lưu và văn hóa thế tục, thậm chí giới trẻ chạy theo những lý tưởng mới lạ dựa trên chủ nghĩa cá nhân, khoái lạc và hưởng thụ vật chất. Tình dục phóng khoáng, phá thai, ly hôn, hôn nhân đồng tính là một thực tế rất phổ biến gây bất ổn nghiêm trọng trong gia đình, cộng đồng xã hội và kể cả trong Giáo hội.
Tôn giáo ở Đài Loan cũng là một điều rất thú vị đáng đề cập trong bài viết này. Truyền thống tôn giáo phổ biến nhất tại Đài Loan là Đạo giáo (道教), Khổng giáo (儒教), Phật giáo (佛教) và Đạo dân gian (民間宗教). Các nghi lễ của các đạo này ở Đài Loan, nhất là Đạo dân gian thể hiện được lòng nhân từ và sự gần gũi của các vị thần linh dành cho tín đồ, như là họ cầu xin để đạt được nhu cầu về vật chất, được sức khỏe hay được thành công. Vì thế, các tín đồ đến với các vị thần để cầu xin bất cứ điều gì họ muốn như tiền bạc, một cô dâu xinh đẹp, một người chồng giàu có, một đứa con trai khôn ngoan để nối dõi tông đường, v.v.[9] Tự do tôn giáo được đề cao, nó được ghi trong hiến pháp của Đài Loan. Hơn nữa, sẽ rất dễ dàng nhận thấy nét đặc trưng tôn giáo ở Đài Loan là sự đa dạng về niềm tin, sự bao dung giữa các tôn giáo. Đa số người dân Đài Loan khi thực hành niềm tin tôn giáo của mình, sẵn sàng kết hợp giữa Phật giáo, Đạo giáo và với thế giới quan Nho giáo. Các vị thần linh của Đạo khác nhau thường được đặt chung trong cùng một ngôi chùa hoặc ngôi miếu để tín đồ đến cúng bái. Ví dụ, trong các ngôi đền, đình hay miếu của Đạo giáo hay Đạo dân gian, người ta có đặt hình tượng Phật Quan Âm của Phật giáo.
Theo thống kê, hiện nay có 9.684 ngôi miếu của Đạo dân gian, 2.317 ngôi chùa Phật giáo và 2.845 nhà thờ của Công giáo, Tin Lành và các tôn giáo khác. Đài Loan có diện tích đất đai là 36.000 km2, nhưng đã có hơn 33.000 cơ sở và trung tâm thuộc các tổ chức tôn giáo. Tỷ lệ dân số có tín ngưỡng của Đài Loan vào giữa năm 2022, trong tổng dân số 23,6 triệu dân, có 27,9% dân số hoàn toàn thực hành các tôn giáo dân gian truyền thống, 19,8% Phật giáo và 18,7% Đạo giáo, với 23,9% xác định là người không tín ngưỡng. Phần còn lại của dân số bao gồm chủ yếu là Tin lành (5,5%), Nhất quán đạo (2,2%), và 1,4% còn lại là Công giáo và thành viên của các nhóm tôn giáo khác, bao gồm người Do thái giáo, Hồi giáo Sunni, Chứng nhân Giê-hô-va.[10]
II. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO TẠI ĐÀI LOAN
1. Tổng quan về Giáo hội Đài Loan
Trước khi đi vào chi tiết bàn luận lịch sử truyền giáo của Giáo hội Công giáo tại Đài Loan, chúng tôi xin giới thiệu tổng quát một số thông tin tình hình của Giáo hội Đài Loan vào cuối năm 2022, tư liệu này được trình bày trong cuốn Sổ tay của Hội đồng Giám mục Đài Loan xuất bản đầu năm 2024. Dưới đây là những thống kê đầy thú vị.
| Nhân lực và Cơ sở Giáo hội Công giáo | Cơ sở | Số người | |
| Số giáo dân | 226.589 | ||
| Giám mục | Đang tại nhiệm | 7 | |
| Nghỉ hưu | 8 | ||
| Linh mục | Linh mục triều | 214 | |
| Linh mục dòng | 402 | ||
| Linh mục người bản địa | 222 | ||
| Linh mục người nước ngoài | 393 | ||
| Chủng sinh | Chủng sinh người bản địa | 27 | |
| Chủng sinh người nước ngoài | 59 | ||
| Nữ tu | Nữ tu bản địa | 704 | |
| Nữ tu người nước ngoài | 395 | ||
| Chủng viện | Đại chủng viện | 2 | 30 |
| Tiểu chủng viện | 2 | ||
| Giáo phận | 7 | ||
| Giáo xứ | 397 | ||
| Cơ sở kiêm quản | 283 | ||
| Trường học | Đại học, cao đẳng | 6 | 61.679 |
| Trường kỹ thuật | 2 | 3.111 | |
| Trường phổ thông | 29 | 52.102 | |
| Trường cấp 1 | 11 | 6.519 | |
| Trường Mẫu giáo | 129 | 14.385 | |
| Trường dạy nghề | 1 | 500 | |
| Ký túc xá | 25 | 4.939 | |
| Truyền thông, báo chí | Tuần báo | 5 | 3.000 |
| Nguyệt san | 21 | ||
| Nhà xuất bản | 5 | ||
| Đài Radio | 2 | ||
| Đài truyền hình Công giáo | 1 | ||
| Chăm sóc y tế | Bệnh viện | 11 | 3.244.942 |
| Trạm xá | 3 | 29.512 | |
| Mái ấm | 3 | 77 | |
| Nhà hưu dưỡng | 20 | 37.485 | |
| Trung tâm khuyết tật | 32 | 3.592 | |
| Công tác xã hội | Trung tâm chăm sóc phụ nữ và người thiểu số | 11 | 1.500 |
| Điểm chăm sóc người già ban ngày | 18 | 500 | |
Bảng tổng kết Giáo hội Đài Loan vào năm 2022
Theo thống kê, Giáo hội Công giáo tại Đài Loan hiện có 226.598 tín hữu, sinh hoạt trong 7 giáo phận. Hiện nay có 7 giám mục đang tại nhiệm và 7 giám mục đã nghỉ hưu. Tổng số linh mục là 616 vị, gồm 214 linh mục triều và 402 linh mục dòng; trong đó có 221 linh mục người bản địa và 395 linh mục đến từ nước ngoài. Về ơn gọi, Giáo hội có 86 chủng sinh, với 27 chủng sinh người bản địa và 59 chủng sinh nước ngoài. Ngoài ra, có 1.299 nữ tu, trong đó 704 là người bản địa và 595 là người nước ngoài.
Nhìn vào các con số trên, có thể thấy một vài điểm đáng chú ý. Trước hết, sau gần 400 năm truyền giáo, số tín hữu Công giáo tại Đài Loan hiện mới đạt 226.589 người, chiếm khoảng 0,7% trong tổng số gần 24 triệu dân. So sánh cụ thể, con số này chỉ tương đương với số giáo dân của giáo phận Vinh tại Việt Nam. Tuy nhiên, tại Đài Loan lại có đến 7 giáo phận, với hơn 700 linh mục và 1.200 nữ tu. Đáng lưu ý, hơn một nửa trong số các linh mục là tu sĩ dòng, và đa phần các linh mục cũng như nữ tu đều là những nhà truyền giáo đến từ nước ngoài.
Thống kê này chứng tỏ một điều, đó là công việc truyền giáo ở Đài Loan đã trải qua rất nhiều khó khăn và bất định. Dĩ nhiên, mặc dầu con số giáo dân ít ỏi, nhưng Giáo hội lại có được nhiều lợi thế, đó là có nhiều cơ sở Công giáo và được sự tự do truyền bá Tin mừng. Cụ thể là có được nhiều trường học, nhiều bệnh viện, nhiều cơ sở y tế và nhiều trung tâm phục vụ xã hội lớn nhỏ.[11]Vậy dưới đây chúng ta sẽ hệ thống lại lịch sử truyền giáo của Giáo hội Đài Loan qua một số giai đoạn quan trọng và nổi bật.
2. Bước khởi đầu của câu chuyện truyền giáo trên hòn đảo Formosa
Theo chia sẻ của Linh mục Gianni Criveller, một nhà truyền giáo thuộc Hội Truyền giáo Giáo hoàng Hải ngoại, từng nhiều năm phục vụ tại Đài Loan, thì vào năm 1626, người Tây Ban Nha đã đặt chân đến miền Bắc Đài Loan. Cùng thời gian này, các tu sĩ Đa Minh thuộc Tỉnh dòng Mân Côi, vốn hoạt động ở Philippines và Nhật Bản, cũng sang truyền giáo tại đây. Trong nhóm truyền giáo có 2 linh mục người Tây Ban Nha và 11 tu sĩ người Nhật. Họ đã xây dựng ngôi nhà thờ đầu tiên và hình thành những cộng đoàn Công giáo tại hai thành phố Ji-long (基隆) và Dan-shui (淡水) ở miền Bắc Đài Loan.
Ít năm sau đó, khoảng từ năm 1631, các tu sĩ Dòng Phanxicô người Tây Ban Nha và Ý cũng đã đến Đài Loan. Thực ra, đối với các vị truyền giáo này, Đài Loan chỉ là điểm dừng chân trước khi họ vào Trung Quốc. Từ Đài Loan, họ vượt eo biển để đổ bộ vào Phúc Kiến. Cũng theo Cha Criveller, vào năm 1642, các nhà truyền giáo Công giáo và người Tây Ban Nha bị người Hà Lan trục xuất khỏi Đài Loan.[12] Chính vì vậy, công việc truyền giáo của giáo hội Đài Loan giai đoạn đầu tiên đã kết thúc.
3. Giai đoạn thứ hai: cuộc truyền giáo khó khăn của người Tây Ban Nha
Dựa trên nghiên cứu của tiến sĩ Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, năm 1895, hiệp ước Shimonoseki được kí kết sau khi hải quân nhà Thanh thất bại trong chiến tranh Thanh–Nhật vào những năm 1894-1895. Trong hiệp ước này, Trung Quốc đã nhượng Đài Loan cho Nhật Bản. Từ đây, Đài Loan trở thành thuộc địa nằm dưới sự cai quản của Nhật Bản trong suốt 50 năm.[13] Tuy nhiên, vào năm 1945, Đài Loan lại được trao trả lại cho Trung Quốc sau thất bại của Nhật Bản trong thế chiến thứ hai.
Một điều quan trọng trong lịch sử truyền giáo của Giáo hội Công giáo tại Đài Loan, đó là vào năm 1859, các tu sĩ dòng Đa Minh Tây Ban Nha, những người đã truyền giáo ở tỉnh Phúc Kiến trong hai thế kỷ, bắt đầu hiện diện tại hòn đảo này. Từ Hạ Môn (廈門), họ đã vượt qua eo biển và định cư ở Cao Hùng, thành phố phía Nam của Đài Loan. Trong 90 năm, cho đến khi Tưởng Giới Thạch đến vào năm 1949, các tu sĩ dòng Đa Minh là những nhà truyền giáo Công giáo duy nhất hiện diện ở Đài Loan.
Trong báo cáo của ngài, Cha Criveller trình bày: “Công việc của các tu sĩ dòng Đa Minh không hề dễ dàng chút nào, bởi vì thành phần sắc tộc, xã hội và văn hóa trên đảo rất phức tạp. Vào cuối thế kỷ 19, người Công giáo chỉ có hơn 1.000 người, tập trung ở một vài ngôi làng nơi các cộng đồng sống biệt lập”.[14] Chúng ta cần kể đến vùng đất Wan Jin (萬金), cách thành phố Cao Hùng khoảng 60 km về phía Nam. Điều đặc biệt ở nơi đây là từ năm 1860, số dân trong làng đã theo đạo Công giáo toàn tòng, mặc dầu dân cư vùng lân cận đều là những người theo Đạo dân gian.
Cho đến hôm nay, đời sống kinh tế đã phát triển, nhưng đời sống đức tin của người giáo dân ở đây vẫn rất sốt sắng. Giáo xứ Wan Jin (萬金) hiện tại đã trở thành trung tâm hành hương của giáo phận, nhận Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội làm bổn mạng. Hằng năm cứ đến ngày 8/12 giáo phận đều tổ chức rước kiệu Đức Mẹ đi qua nhiều ngôi làng, sau đó kết thúc bằng Thánh lễ tại ngôi thánh đường có tuổi thọ trên 150 năm. Tôi có dịp đến hành hương giáo xứ này nhiều lần. Đặc biệt, hiện tại cha quản xứ là một linh mục người Việt Nam nên tôi lại thường xuyên về đó hơn.
Rất tiếc, ngoài thành công ở giáo xứ Wan Jin (萬金) ra, không một giáo xứ hoặc điểm truyền giáo nào ở Đài Loan thành công trong việc truyền bá đức tin. Đặc biệt, sự hiện diện của người Nhật cũng đã đặt các Kitô hữu vào một tình thế khó khăn; ví dụ, vào năm 1912 Giáo hội Đài Loan bị tách ra khỏi Hạ Môn và trở thành một tỉnh của Nhật. Một điểm khó khăn nữa, đó là sự mâu thuẫn văn hóa và sự khác biệt nghi lễ tôn giáo. Mặc dầu “các tu sĩ dòng Đa Minh đã nỗ lực hết mình để thu phục người Đài Loan theo đạo nhưng họ vẫn không chấp nhận các nghi lễ truyền thống của người Hoa”. Quả vậy, nếu các nhà truyền giáo nỗ lực truyền bá giá trị Phúc Âm, nhưng từ chối các nghi thức thờ cúng mang đậm nghi thức dân gian của một dân tộc thì hiệu quả của việc truyền giáo đã rất giới hạn.
4. Giai đoạn thứ ba: Giáo hội Trung Quốc tại Đài Loan
Sau khi tình hình chính trị tại Trung Hoa đại lục thay đổi và chính quyền mới được thiết lập, nhiều linh mục, tu sĩ cùng một bộ phận giáo dân đã hành trình sang Đài Loan. Cùng với họ là khoảng một triệu binh sĩ và người di cư, tạo nên một biến chuyển to lớn trong đời sống xã hội và tôn giáo của hòn đảo nhỏ bé này. Đây được xem là một sự kiện mang tính bước ngoặt, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử truyền giáo tại Đài Loan.
Tạp chí Taiwan Panorama miêu tả, khi chính phủ Quốc Dân Đảng chuyển đến Đài Loan vào năm 1949, Giáo hội Công giáo ở đây được chia thành hai Tổng Giáo phận, gồm Đài Bắc và Cao Hùng. Sau đó nhiều giáo phận khác cũng được thành lập, gồm có Đài Trung, Gia Nghĩa, Hoa Liên, Đài Nam và Tân Trúc. Tạp chí này viết tiếp:
Vì chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đảm bảo tự do tín ngưỡng, các linh mục và giáo dân có thể tự do rao giảng. […]. Các nhà thờ Công giáo đã được thiết lập ở mọi quận, thị trấn và làng mạc, kể cả trong các thành phố. Vào cuối năm đó, có 678 nhà thờ Công giáo ở Đài Loan, phục vụ cho khoảng 277.000 tín hữu.[15]
Rõ ràng cộng đoàn Công giáo đã gia tăng cách ấn tượng. Nhiều giáo phận mới đã được thành lập cùng với nhiều trường học, bệnh viện và trung tâm mục vụ ra đời. Nhiều chương trình sinh hoạt xã hội cũng bắt đầu để đáp ứng nhu cầu cấp bách của di dân mới nhập cư.
Trong thập niên 1960 và 1970, Giáo hội Công giáo tại Đài Loan từng ghi nhận một kỷ lục về số lượng tu sĩ nam nữ, cao nhất trong lịch sử của mình. Tuy nhiên, khi đời sống xã hội tại Đài Loan dần ổn định, nhiều giám mục và linh mục từ Trung Hoa đại lục bắt đầu hướng tâm trở lại quê hương. Thay vì gắn bó lâu dài với cộng đoàn địa phương, họ dành nhiều nỗ lực cho những chương trình hỗ trợ Giáo hội tại đại lục, từ việc kêu gọi quyên góp đến các hoạt động kết nối khác. Chính điều này đã tạo nên một khoảng cách nhất định giữa họ và người Công giáo bản địa. Với nhiều người Đài Loan, các vị mục tử ấy vẫn được nhìn nhận như những người tạm trú, chưa thật sự xem Đài Loan là quê hương mới của mình.
5. Giai đoạn thứ tư: Giáo hội Đài Loan hiện tại và những thách đố của việc truyền giáo
Nếu đặt trong sự so sánh, Đài Loan có khá nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, đặc biệt trong mối quan hệ với Trung Hoa đại lục. Hơn một nghìn năm lịch sử, Việt Nam từng chịu sự đô hộ của phương Bắc, và cho đến nay, đất nước chúng ta cũng vẫn ít nhiều chịu ảnh hưởng từ quốc gia láng giềng này. Tiến sĩ Nguyễn Thị Mỹ Hạnh nhận định: “Nếu như Việt Nam từng là một nước ‘chư hầu’ trong hệ thống các nước triều cống, sách phong do Trung Hoa làm trung tâm trước khi trở thành thuộc địa nửa phong kiến của Pháp, thì Đài Loan, trước khi trở thành thuộc địa của Nhật Bản, cũng đã là một phần lãnh thổ của Trung Hoa”.[16]
Có thể thấy, trong cái nhìn lịch sử cũng như hiện tại, cả Việt Nam lẫn Đài Loan đều giữ một vị trí địa chiến lược quan trọng đối với Trung Quốc. Dù ngày nay Đài Loan có hiến pháp, chính phủ riêng và nhận được sự hậu thuẫn từ Mỹ cùng nhiều quốc gia khác, ảnh hưởng từ Trung Quốc vẫn hiện diện ở nhiều khía cạnh và đặt ra không ít giới hạn cho hòn đảo này. Tuy nhiên, nhờ tinh thần bền bỉ và ý chí vươn lên, người dân Đài Loan đã từng bước vượt qua khó khăn để đạt được những thành tựu kinh tế nổi bật, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và trân trọng.
Ngày nay, Đài Loan được xem là một trong những quốc gia thịnh vượng và tiên tiến về kỹ thuật tại châu Á. Tiến trình dân chủ hóa đã mở ra nhiều đổi thay trong xã hội, nhưng cũng kéo theo những bất ổn ảnh hưởng đến công cuộc truyền giáo. Giới trẻ đề cao tự do cá nhân, có những chọn lựa không luôn phù hợp với giáo huấn của Giáo hội, khiến họ ít gắn bó hơn với đời sống đức tin. Bên cạnh đó, nhịp sống kinh tế hối hả và làn sóng di dân từ nông thôn ra thành thị khiến nhiều người dần xa rời sinh hoạt tôn giáo. Vì thế, việc theo Công giáo ở Đài Loan vẫn còn hạn chế, và Kitô giáo nhìn chung chưa thật sự gần gũi với phần đông người dân.
Tuy nhiên, trước những khó khăn đó, Giáo hội luôn có những nỗ lực đáng khâm phục để tiếp tục giúp người dân Đài Loan thấy sự hiện diện quan trọng của đạo Công giáo trong đời sống của họ. Giáo hội thực hiện nhiều chương trình phục vụ xã hội, nhất là phục vụ giới trẻ, chăm sóc người cao niên, trẻ em khuyết tật.
Mục đích truyền giáo dĩ nhiên là giúp gia tăng con số các tín hữu, tuy nhiên, trong bối cảnh của xã hội Đài Loan, đôi lúc những nỗ lực này không thể chỉ nhắm đến thành công về số lượng nhưng trước hết cần tạo dựng sự tin cậy và sức sống của Tin mừng trong một đoàn chiên bé nhỏ.[17]
Quả thật, phần tiếp theo chúng ta sẽ tìm hiểu về sự hiện diện của các nhà truyền giáo Việt Nam tại Đài Loan. Khi rời quê hương để đến một đất nước tự do, có nền kinh tế ổn định, xã hội yên bình cùng bối cảnh văn hóa và tôn giáo đa dạng, họ đã đối diện với những thách đố nào và đã thích nghi ra sao? Trong môi trường mới, nơi đối thoại liên tôn diễn ra cách dân chủ và công bằng, hàng trăm linh mục và tu sĩ người Việt đã chọn ở lại, dấn thân và miệt mài với sứ mạng loan báo Tin mừng trên mảnh đất xứ Đài.
III. SỨ VỤ LOAN BÁO TIN MỪNG CỦA CÁC NHÀ TRUYỀN GIÁO VIỆT NAM TRÊN XỨ ĐÀI
1. Sự xuất hiện của các nhà truyền giáo Việt Nam tại Đài Loan
Trước khi viết phần này, chúng tôi có liên lạc với cha Giuse Trương Văn Phúc, là linh mục có nhiều năm mục vụ truyền giáo tại Đài Loan. Cha Phúc hiện nay là cha Chưởng ấn, Tổng thư ký cho Đức Giám mục giáo phận Tân Trúc, đồng thời là cha xứ của nhà thờ Chánh tòa giáo phận này. Khi trò chuyện với ngài về sự hiện diện của các nhà truyền giáo Việt Nam tại Đài Loan, ngài cho biết, nhà truyền giáo Việt Nam đầu tiên đến với Giáo hội Đài Loan là Cha Giuse Vũ Kim Chính, một linh mục Dòng Tên. Cha Chính đến Đài Loan vào năm 1980, sau nhiều năm du học bên Áo. Cha Vũ Kim Chính là một thần học gia và giáo sư nổi tiếng của trường Đại học Công giáo Phụ Nhân, Đài Bắc. Ngài đã qua đời vào tháng 10 năm 2023 ở độ tuổi 75, sau nhiều thập niên giảng dạy và nghiên cứu tại đại học này. Ngài đã đào tạo nhiều linh mục, tu sĩ, giáo dân và các nhà nghiên cứu xuất sắc cho Giáo hội Đài Loan nói riêng và Giáo hội hoàn vũ nói chung.
Năm 1985, số lượng các nhà truyền giáo Việt Nam tại Đài Loan tăng lên khi có nhiều chủng sinh Việt Nam đến từ Mỹ, Canada, Úc… Nhận lời mời của các giám mục, các nhà truyền giáo Việt Nam tình nguyện gia nhập vào công việc truyền giáo của Giáo hội tại Đài Loan. Đến với hòn đảo này, việc đầu tiên của các nhà truyền giáo là học tiếng Hoa, sau đó học triết học, thần học, rồi được thụ phong linh mục và bắt đầu làm việc cho các giáo phận.
Ngoài các giáo phận, hằng năm, nhiều hội dòng như Dòng Maryknoll, Dòng Ngôi Lời, Dòng Tên, Dòng Columban và các hội dòng khác cũng bắt đầu gửi các nhà truyền giáo Việt Nam đến Đài Loan.
Kể từ năm 1995, với Chính sách hướng nam Đài Loan thiết lập tương quan mật thiết với các nước Đông Nam Á, một số dòng tu ở Đài Loan cũng bắt đầu chuyển hướng sang các quốc gia này, nhất là đến Việt Nam để tuyển mộ ơn gọi, trong đó phải kể là Dòng Tiểu Đệ Thánh Gioan Tẩy Giả, Dòng Tiểu Muội Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, Dòng Thánh Tâm Chúa Giêsu, Dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm Mẹ Thiên Chúa, Dòng Nữ Tá Viên Mục Vụ Bệnh Nhân Thánh Camillo và nhiều hội dòng khác.
Chính nhờ sự chuyển hướng này, hiện nay các hội dòng nói trên có số tu sĩ người Việt lên tới 30 đến 40 thành viên, chiếm khoảng 2/3 con số các thành viên trong hội dòng. Nhờ có sự sẵn sàng đến với Đài Loan, hiện nay có nhiều linh mục và tu sĩ đang hiện diện trong nhiều lãnh vực và đảm nhiệm nhiều chức vụ rất quan trọng trong các giáo phận và nhiều cơ quan trực thuộc các giáo phận cũng như của các hội dòng.
Theo thống kê của Hội đồng Giám mục Đài Loan, cuối năm 2022, số lượng các linh mục người Việt Nam tại Đài Loan là 82 vị, nữ tu có 146 vị và có 7 chủng sinh thuộc các hội dòng như Dòng Ngôi Lời, Dòng Tên, Dòng Phanxicô… Được biết, trong hai năm nay có một số lượng lớn ơn gọi đến từ Việt Nam, họ đang trong chương trình thỉnh viện và tập viện, cho nên ước tính đến nay đã có khoảng 300 tu sĩ người Việt đang làm việc truyền giáo tại Đài Loan.
2. Ý thức sứ vụ truyền giáo của các nhà truyền giáo Việt Nam tại Đài Loan
Trước khi nhận sứ vụ sang truyền giáo tại Đài Loan, các linh mục và tu sĩ Việt Nam nhận thức rõ tính cần thiết và cấp bách của sứ vụ loan báo Tin mừng. Chúng tôi hiểu rõ rằng khi đặt chân đến Đài Loan không gì khác ngoài việc làm chứng cho Chúa trong môi trường mà đa số người dân theo Phật giáo, Đạo giáo, và tín ngưỡng dân gian. Chúng tôi ý thức trách nhiệm của mình là làm cho tinh thần Kitô giáo được nảy nở trong đời sống của người dân.
Nỗ lực truyền giáo nơi đây không phải là “một thoáng gió bay” hay công việc trong chốc lát, nhưng đòi hỏi sự kiên trì và bền bỉ. Bởi lẽ, số người chưa nhận biết Tin mừng tại Đài Loan vẫn còn rất lớn, và việc loan báo Tin mừng cho một dân tộc có nền văn hóa khác biệt như thế trở nên vô cùng cấp thiết.
Sau nhiều năm hiện diện, chúng tôi càng ý thức rõ rằng sứ vụ này không thể thành công trong sự vội vã, mà cần nhiều thời gian và tâm lực. Công cuộc truyền giáo thường chỉ bắt đầu từ những cuộc gặp gỡ, làm quen, rồi dần dần thấm sâu vào lòng người theo cách “mưa dầm thấm lâu”.
3. Đi tìm những phương thức loan báo Tin mừng thích hợp
Để hiểu rõ hơn về sứ vụ của các linh mục và tu sĩ Việt Nam tại Đài Loan, tôi đã thực hiện một cuộc khảo sát ngắn, tập trung vào những công việc mục vụ và truyền giáo mà các vị đang đảm trách. Tôi cũng đặt ra một số câu hỏi liên quan, chẳng hạn mỗi năm có bao nhiêu người được các nhà truyền giáo Việt Nam giúp đỡ để gia nhập Giáo hội Công giáo, cùng với nhiều khía cạnh khác trong đời sống và công việc của các ngài.
Chúng tôi đã nhận được hơn 50 bản phúc đáp từ các linh mục và tu sĩ đang phục vụ tại Đài Loan. Kết quả khảo sát cho thấy, đa số các nhà truyền giáo Việt Nam hiện đang trực tiếp tham gia công tác mục vụ tại các giáo xứ, chiếm 38,3%. Đứng thứ hai là sứ vụ trong các trường học với 21,3%. Tiếp đến là mục vụ trong lĩnh vực y tế, chiếm 10,6%, còn lại là các hoạt động mục vụ xã hội và những công việc khác. (Xemsơ đồ thống kê dưới đây).
| Thứ tự | Nội dung công việc mục vụ ủa các tu sĩ Việt Nam tại Đài Loan | Tỷ lệ (%) |
| 1 | Mục vụ giáo xứ, trong đó có mục vụ di dân | 38,3 |
| 2 | Mục vụ trường học | 21,3 |
| 3 | Mục vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ và chăm sóc người cao niên | 10,6 |
| 4 | Mục vụ xã hội | 8,3 |
| 5 | Các mục vụ khác | 21,5 |
Nhìn chung, có 99% các linh mục Việt Nam đang làm mục vụ ở Đài Loan đều là các cha xứ hoặc được bổ nhiệm làm công việc mục vụ di dân. Riêng với các nữ tu, ngoài một số sơ có bài sai đi mục vụ giáo xứ thì đa số các sơ làm việc trong các môi trường giáo dục và y tế, vì các hội dòng ở Đài Loan đa số đều có trường học, bệnh viện, cơ sở y tế, trung tâm mục vụ người cao tuổi hay trung tâm chăm sóc người khuyết tật. Để giúp quý độc giả hiểu rõ hơn về sứ vụ của các linh mục và tu sĩ Việt Nam tại Đài Loan, xin được chia sẻ đôi nét kinh nghiệm mục vụ của chính tác giả trong hơn 20 năm gắn bó với mảnh đất này. Trong thời gian truyền giáo, tôi có cơ hội trải qua hai năm mục vụ giáo xứ, nhiều năm giảng dạy tại trường học, cũng như đồng hành lâu dài trong mục vụ di dân và mục vụ giới trẻ. Những trải nghiệm đó sẽ được trình bày ở phần tiếp theo như một cuộc trò chuyện thân tình cùng bạn đọc.
4. Mục vụ giáo xứ và những ưu tiên cho giới trẻ
Giáo xứ nơi tôi phục vụ là nhà thờ Chánh tòa giáo phận Gia Nghĩa (嘉義教區), có hơn 2.000 giáo dân ghi danh, nhưng chỉ khoảng 200 người tham dự Thánh lễ Chúa nhật. Một thực trạng phổ biến ở nhiều nhà thờ Công giáo tại Đài Loan là phần lớn người tham dự đều đã lớn tuổi, trong khi giới trẻ vắng bóng.
Tôi bắt đầu tự hỏi: Người trẻ đang ở đâu? Làm sao đưa các bạn trẻ Công giáo trở lại với Giáo hội? Và làm sao tiếp cận được với các bạn trẻ ngoài Công giáo? Tôi lắng nghe, tìm hiểu, rồi dần dần bắt tay vào hành động: đến thăm các gia đình có con em thanh thiếu niên để trò chuyện qua cha mẹ, chủ động liên hệ với nhà trường để xin mở lớp đọc Kinh Thánh bằng tiếng Anh, thậm chí cùng một số giáo dân nhiệt thành đến công viên làm quen với các bạn trẻ đang vui chơi, thể thao, chỉ với mong muốn tiếp cận và xây dựng tình thân.
Sau hơn hai năm kiên trì, giáo xứ chúng tôi đã hình thành được một nhóm giới trẻ khoảng 30 em, thành lập ban nhạc, nhóm đọc Kinh Thánh… Điều đáng vui mừng là các bạn trẻ không chỉ sinh hoạt trong giáo xứ, mà còn mạnh dạn tham gia các cuộc thi Kinh Thánh cấp giáo phận, định kỳ phục vụ người già và trẻ khuyết tật, biểu diễn tại trung tâm văn hóa thành phố, giao lưu thể thao và đối thoại về các chủ đề xã hội với giới trẻ ở những nơi khác. Tất cả nhằm giúp các em củng cố đức tin và học cách chia sẻ niềm tin Kitô hữu với bạn bè đồng trang lứa bằng chính cách diễn đạt gần gũi của các em.
5. Loan báo Tin mừng trong trường học
Vì thấy tôi có nhiệt huyết và khả năng làm việc với giới trẻ, bề trên bổ nhiệm tôi làm quản nhiệm, dạy học trong một trường Công giáo và phụ trách văn phòng mục vụ giới trẻ của nhà dòng, kiêm cả văn phòng mục vụ giới trẻ của Hội đồng Giám mục Đài Loan. Có trong tay cơ hội ấy, tôi tận tâm dấn thân tìm “chiên lạc” và dẫn họ về với Giáo hội.
Đài Loan là một đất nước kinh tế phát triển, nên đa số gia đình chỉ có một hoặc hai con. Cha mẹ thường dồn hết sức lực để lo cho con cái học hành, vô tình tạo nên một thế hệ trẻ được nuông chiều, coi trọng bằng cấp, chạy theo vật chất và tự do cá nhân. Phong cách sống của họ chịu ảnh hưởng đậm nét văn hóa phương Tây, đặc biệt là giới trẻ Mỹ, từ phim ảnh, thể thao đến thức ăn nhanh như McDonald’s hay KFC. Hệ quả là nhiều bạn trẻ tôn thờ chủ nghĩa cá nhân, xem nhẹ tôn giáo, gia đình và cộng đoàn. Nhận thấy khoảng trống ấy, tôi quan niệm giáo dục Công giáo không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn phải giúp các em rèn luyện nhân cách theo các giá trị Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, Hòa, cùng các giá trị của Tin mừng.
Một hạn chế khác là tầm nhìn quốc tế của giới trẻ Đài Loan bị giới hạn do những rào cản trong giao lưu quốc tế. Để khắc phục, Bộ Giáo dục đã khởi động chương trình Service, Learning and Experience of Life (Tình nguyện, Học hỏi và Trải nghiệm cuộc sống), buộc học sinh trung học phải có ít nhất 30 giờ tình nguyện mới được tốt nghiệp và sinh viên đại học thêm 20 giờ nữa. Nhờ vậy, các em không chỉ học văn hóa mà còn biết quan tâm đến tha nhân và xã hội.
Chính phủ cũng khuyến khích và tài trợ cho giới trẻ tham gia các chuyến tình nguyện quốc tế, vừa giúp đào tạo nhân cách vừa quảng bá hình ảnh đất nước qua khẩu hiệu: “Để thế giới nhận biết Đài Loan” (讓世界看到台灣). Nhờ đó, mỗi năm hàng ngàn bạn trẻ được đưa đi nhiều châu lục để học hỏi và phục vụ theo chương trình của Bộ Giáo dục.
6. Chương trình sinh viên tình nguyện Việt Nam và mục đích truyền giáo
Nắm rõ chính sách giáo dục và nhu cầu học sinh, tôi quyết định tổ chức các chuyến đi tình nguyện nước ngoài, và chọn Việt Nam, quê hương của mình làm điểm đến.
Chương trình bắt đầu từ năm 2011, mỗi năm vào dịp hè chúng tôi về Việt Nam 14 ngày, đoàn thường có 30–35 người, kèm hai giáo viên. Hoạt động gồm: sáu ngày tìm hiểu văn hóa, hai ngày giao lưu giới trẻ giáo xứ, bốn ngày phục vụ trẻ mồ côi, một ngày thăm người già bệnh tật. Khi du lịch, đoàn ở các trung tâm hành hương hoặc nhà dòng; khi làm việc, các em ở “homestay” với gia đình giáo dân, hai em một nhà. Cuộc sống giản dị này để lại nhiều ấn tượng, đặc biệt vì hơn 80% học sinh là lương dân, nhưng trước khi đi tôi yêu cầu họ tham dự Thánh lễ và giờ cầu nguyện mỗi ngày.
Năm đầu, việc kêu gọi rất khó vì nhiều người Đài Loan nghĩ Việt Nam nghèo và lạc hậu. Tôi phải kiên nhẫn thuyết phục từng giáo viên và phụ huynh. Nhưng rồi hai tuần sống cùng gia đình Công giáo đã giúp các em tiếp xúc hằng ngày với Thánh lễ, kinh nguyện, thánh ca. Mỗi tối, sau giờ phục vụ, chúng tôi đọc Lời Chúa và chia sẻ. Nhờ vậy, nhiều em bắt đầu có thiện cảm với Giáo hội và quan tâm đến đời sống thiêng liêng.
Chúng tôi không ép buộc ai theo đạo, chỉ tạo điều kiện cho họ trải nghiệm. Em nào tỏ ra đặc biệt quan tâm, chúng tôi mời tham gia lớp giáo lý dự tòng. Trường luôn có sẵn các lớp Kinh Thánh và dự tòng cho cả học sinh lẫn giáo viên, do các giáo lý viên giàu kinh nghiệm phụ trách. Việc truyền giáo được tiến hành nhẹ nhàng, tự nhiên và kiên nhẫn. Kinh nghiệm cho thấy, mỗi chuyến đi thường có khoảng mười em đăng ký học giáo lý, và sau một năm, hai hoặc ba em lãnh nhận bí tích Rửa tội.
Việc truyền giáo không chỉ của riêng một cá nhân, nhưng cần sự cộng tác của nhiều thành phần. Chúng tôi thường giới thiệu học sinh cho các văn phòng mục vụ và giáo xứ địa phương để tiếp tục đồng hành. Nhờ đó, các em cảm nhận Giáo hội như một mái nhà chung, nơi họ luôn được chào đón, nâng đỡ và có thể gắn bó lâu dài sau khi tốt nghiệp.
KẾT LUẬN
Như đã chia sẻ ở phần đầu, trọng tâm của bài viết không phải giới thiệu mục vụ cho người di dân Việt Nam tại Đài Loan, nhưng nhấn mạnh đến một nhóm “di dân đặc biệt”, là các linh mục và tu sĩ Việt Nam được sai đến đây để tiếp nối sứ mạng truyền giáo của Giáo hội.
Trước hết, cần khẳng định Giáo hội Công giáo tại Đài Loan có lịch sử truyền giáo lâu dài nhưng phải đối mặt với nhiều thách đố. Từ thế kỷ 17, các thừa sai Tây Ban Nha đã gieo hạt giống Tin mừng tại mảnh đất này, song chỉ đến thế kỷ 19 với sự hiện diện của Dòng Đa Minh, công cuộc truyền giáo mới trổ sinh hoa trái, nhiều nhà thờ được xây dựng và nhiều người đón nhận đức tin.
Về tổ chức, ban đầu chỉ có hai tổng giáo phận (Đài Bắc và Cao Hùng), nhưng từ sau năm 1949, khi Tưởng Giới Thạch cùng hàng trăm ngàn tín hữu di cư sang, Giáo hội được mở rộng thành 7 giáo phận. Hiện nay, số tín hữu chỉ chiếm khoảng 0,7% dân số Đài Loan, tuy nhỏ bé nhưng nổi bật trong giáo dục, y tế và các công tác xã hội. Trong bối cảnh xã hội đa nguyên và ngày càng thế tục hóa, Giáo hội Đài Loan vẫn nỗ lực duy trì vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa và tinh thần của hòn đảo.
Trong hành trình này, các linh mục và tu sĩ Việt Nam hiện diện như những cộng tác viên nhiệt thành. Không chỉ chăm sóc mục vụ cho cộng đồng người Việt, họ còn dấn thân vào giáo xứ địa phương, trường học, bệnh viện và các hoạt động xã hội. Các ngài giúp duy trì đời sống đức tin, đồng thời hỗ trợ di dân Việt hội nhập qua các lớp học văn hóa, ngôn ngữ, kỹ năng sống. Bằng sự năng động và gần gũi, họ còn mở ra nhiều sáng kiến giao lưu văn hóa, tạo cầu nối giữa người Việt và người Đài Loan.
Nhờ những đóng góp ấy, đời sống đức tin của Giáo hội Đài Loan thêm sinh động, và cộng đồng người Việt nơi đây cũng được nâng đỡ, trưởng thành hơn trong hành trình đức tin và hội nhập vào đời sống xã hội.
Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 150 (tháng 11 & 12 năm 2025)
[1] Phạm Trọng Quang, “Vài nét về mục vụ di dân của Giáo hội Đài Loan,” trong Di dân Việt Nam tại châu Á: Thực trạng và đường hướng mục vụ, chủ biên Anthony Lê Đức và Nguyễn Quốc Thuần (Bangkok: Asian Research Center for Religion and Social Communication, 2020).
[2] Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, “Việt Nam-Đài Loan cuối Thế kỷ XIX- đầu Thế kỷ XX: Một vài điểm tham chiếu,”Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2019: 1246–54. https://thanhdiavietnamhoc.com/viet-nam-dai-loan-cuoi-the-ky-xix-dau-the-ky-xx-mot-vai-diem-tham-chieu/.
[3] Phạm Trọng Quang, “Vài nét về mục vụ di dân của Giáo hội Đài Loan.”
[4] Ibid.
[5] Trần Thị Duyên, “The Human Resource Cooperation between Vietnam and Taiwan: Situation, Problems, and Solutions,” Proceedings of ISER 55th International Conference, Tokyo, Japan, 29th-30th March 2017.
[6] Ja-Ian Chong, “Rediscovering an Old Relationship: Taiwan and Southeast Asia’s Long, Shared History,” trong Re-Examining Critical Links Between Taiwan and Southeast Asia: The New Southbound Policy in The Tsai Era (2018), https://www.nbr.org/wp-content/uploads/pdfs/publications/psa_southbound_briefs_2018.pdf.
[7] Phạm Trọng Quang, “Vài nét về mục vụ di dân của Giáo hội Đài Loan.”
[8] Office of Trade Negotiations, Executive Yuan and Bureau of Foreign Trade, Ministry of Economic Affairs, The New Southbound Policy: A Practical Approach Moving Full Stream Ahead (2019), https://www.ey.gov.tw/File/EAAA87E59406DD4D.
[9] di Donato Contuzzi, “Missionaries In Taiwan: Like Dwarfs on the Shoulders of Giants,” (2019), http://omnisterra.fides.org/articles/view/125
[10] U.S. Department of State, “Report on International Religious Freedom: Taiwan,” Taiwan – United States Department of State, 2022.
[11] Xem bảng tổng kết danh sách tu sĩ của Giáo hội Đài Loan cuối năm 2022.
[12] Criveller, “Lịch sử truyền giáo của Giáo hội Công giáo Tại Đài Loan,” 2022, https://www.vaticannews.va/vi/church/news/2022-07/lich-su-truyen-giao-giao-hoi-cong-giao-dai-loan.html
[13] Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, “Việt Nam – Đài Loan cuối Thế kỷ XIX – đầu Thế kỷ XX: Một vài điểm tham chiếu.”
[14] Criveller, “Lịch sử truyền giáo của Giáo hội Công giáo tại Đài Loan.”
[15] Taiwan Panorama, “The Catholic Church in Taiwan – Taiwan Panorama,” 1980, Taiwan-panorama.com.
[16] Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, “Việt Nam – Đài Loan cuối Thế kỷ XIX – đầu Thế kỷ XX: Một vài điểm tham chiếu.”
[17] Vũ Kim Chính, “Sứ mạng truyền giáo của Giáo hội,” Học viện Thánh Giuse Dòng Tên Việt Nam, 31/7/1998, https://sjjs.edu.vn/su-mang-truyen-giao-cua-giao-hoi/.
TAGS: