Bài Suy Niệm 11, Linh Thao Mùa Chay: Đức Cha Varden Suy Ngẫm Về Việc Thông Truyền Niềm Hy Vọng
Đức cha Erik Varden trình bày bài suy niệm thứ mười một và cũng là bài cuối cùng của ngài cho Linh Thao Mùa Chay của Giáo triều, tập trung vào chủ đề “Thông truyền niềm hy vọng”. Sau đây là bài suy niệm của ngài.
Ngày 11 tháng 10 năm 1962, thánh Giáo hoàng Gioan XXIII đã long trọng khai mạc Công đồng Vatican II. Ngài nói rằng “mối quan tâm lớn nhất” của Công đồng là “bảo vệ và giảng dạy kho tàng giáo lý thiêng liêng của Kitô giáo một cách hiệu quả hơn. Giáo lý ấy bao trùm toàn bộ con người, gồm cả thể xác và linh hồn. Nó mời gọi chúng ta, những lữ khách trên trái đất này, hướng về quê hương trên trời.”
Chưa đầy một tuần sau bài phát biểu của Đức Giáo hoàng, cuộc Khủng hoảng Tên lửa Cuba bùng nổ. Con người dường như đang tự hủy diệt chính mình trong cuộc hành trình trần thế này, mà không hề nghĩ đến mục tiêu cánh chung. Với những vết thương của Thế chiến II vẫn còn rỉ máu, loài người đang tạo ra những viễn cảnh tự hủy diệt khủng khiếp mới.
Một bầu không khí bất ổn đã bao trùm Công đồng; đồng thời, giai đoạn này tràn đầy hy vọng mãnh liệt về một xã hội mới được xây dựng trên nền tảng nhân quyền, thương mại công bằng và những tiến bộ kỹ thuật. Công đồng mong muốn lên tiếng về những “vấn đề đáng lo ngại của thời đại đối với xu hướng hiện tại của thế giới, vị trí và vai trò của con người trong vũ trụ, ý nghĩa của những nỗ lực… của con người, số phận cuối cùng của thực tại và nhân loại”. Không chỉ tập trung vào các vấn đề đó, Công đồng còn hướng đến giải pháp, tuyên bố rằng Chúa Kitô, chịu đóng đinh và phục sinh, là hiện thân của tương lai nhân loại. Công đồng giao cho Giáo hội nhiệm vụ loan báo Chúa Kitô sao cho Người hiện diện rõ ràng và thuyết phục như là câu trả lời cho những vấn đề cấp bách nhất của thời đại mà không khi nào làm tổn hại đến kho tàng giáo lý thiêng liêng.
Chúng ta có thể tự hỏi liệu trong sáu mươi năm đã trôi qua kể từ khi Công đồng kết thúc, niềm tin vào sức mạnh và hiệu quả của kho tàng này có luôn được duy trì ở mọi nơi hay không. Mỗi thế hệ Kitô hữu đều có bổn phận tự xem xét mình về sự tương phản mà thánh Phaolô đã chỉ ra cho tín hữu Êphêsô giữa tầm vóc viên mãn của Chúa Kitô được biểu lộ trong sự hiệp nhất đức tin và tri thức, trong tình trạng con người trưởng thành, và trạng thái trẻ nhỏ bị sóng đánh trôi giạt, bị cuốn theo mọi chiều gió giáo lý, lúc thì bởi sự gian xảo, lúc thì bởi những mưu mẹo xảo quyệt, lúc thì bởi sự lạc quan dễ dãi.
Chúa Kitô kêu gọi chúng ta thông truyền niềm hy vọng cho thế giới. Có niềm hy vọng Kitô giáo không nhất thiết có nghĩa là một người lạc quan. Một người Kitô hữu thề bỏ sự mơ tưởng, kiên quyết lựa chọn hiện thực. Những kẻ mị dân hứa hẹn rằng mọi thứ sẽ tốt hơn. Họ tự nhận mình có quyền năng phi thường để thay đổi cộng đồng trong một nhiệm kỳ bầu cử, làm sao lãng quần chúng khỏi những thất vọng bằng cách phát bánh mì, vé xem xiếc và phỉ báng đối thủ. Lời Chúa Kitô thì khác hẳn. Người nói với chúng ta: “Người nghèo thì bên cạnh anh em lúc nào cũng có”. Người khẳng định rằng quốc gia này sẽ nổi dậy chống lại quốc gia nọ. Sự bách hại sẽ đến. Kẻ thù của một người sẽ là những người trong chính gia đình mình. Không có sự cam chịu què quặt nào trong những lời tuyên bố này. Chúa bắt buộc chúng ta, những môn đệ của Người, phải lao động không ngừng nghỉ vì một nhân loại mới, lành mạnh được hình thành bởi lòng bác ái và công lý. Người bảo chúng ta “chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người mắc bệnh phong được sách, trừ khử ma quỷ”. Chúng ta phải thực hiện các mối phúc, làm cho vinh quang ẩn giấu bên trong chúng tỏa sáng. Nhưng trong quá trình thực hiện, chúng ta được nhắc nhở rằng: “Không có Thầy, các con chẳng làm gì được.”
Chúa Kitô là ánh sáng muôn dân, Lumen Gentium. Chỉ mình Người, thực thi thánh ý Chúa Cha, hành động trong Chúa Thánh Thần, mới có thể canh tân bộ mặt trái đất. Chúng ta đặt niềm tin nơi Người, không phải vào những mưu kế thoáng qua.
Ngài có thể hành động qua chúng ta nếu chúng ta đồng ý kiên nhẫn. Mùa Chay cho chúng ta thấy rằng Thiên Chúa, chịu đựng vết thương của lòng nhân ái của Người, đang hoạt động tích cực nhất trong cuộc Khổ nạn của Người. Niềm hy vọng mà Ngài trao phó cho chúng ta không phải là hy vọng vào một Thung lũng Nước mắt được hiện đại hóa, số hóa và thanh lọc. Niềm hy vọng của chúng ta nằm ở một trời mới, một đất mới, trong sự sống lại của kẻ chết.
Thời đại chúng ta đang sống khao khát được nghe niềm hy vọng được loan báo này. Chúng ta đã xem xét một số dấu hiệu xung quanh mình: nhận thức tôn giáo mới trong giới trẻ; sự trở lại của phạm trù chân lý trong diễn ngôn công cộng; một cuộc tìm kiếm cội nguồn. Các thể chế và liên minh toàn cầu đang tan rã. Chúng ta đang đối mặt với nguy hiểm chiến lược, sinh thái và ý thức hệ. Thật tự nhiên khi những người có lý trí và thiện chí đặt câu hỏi rằng, giữa sự bất ổn như vậy, điều gì có cơ hội kéo dài. Mệt mỏi vì xây dựng cuộc sống trên cát, họ tìm kiếm đá vững chắc. Trong khi đó, trái tim họ lại bất an. Các Nghị phụ của Công đồng Vatican II đã khẳng định, trong Gaudium et spes, rằng những khát vọng tốt đẹp nhất và nỗi sợ hãi đen tối nhất của thời đại hiện nay phải vang vọng trong trái tim của các Kitô hữu. Bởi vì Kitô hữu không xa lạ với bất cứ điều gì “thực sự thuộc về con người”.
Cho phép con chia sẻ một tiếng vọng vang vọng trong con như thế.
Một năm trước, vào ngày 8 tháng 2 năm 2025, nữ ca sĩ người Mỹ Gracie Abrams đã có một buổi hòa nhạc ở Madrid. Cô ấy là một phụ nữ trẻ với mọi thứ trong tay. Cô ấy xinh đẹp, giàu có, thành đạt. Ở Madrid, cô ấy mặc một chiếc váy lụa trắng. Nó có thể là một chiếc váy cưới, một bộ trang phục của niềm vui, nếu không phải vì những dải ruy băng đen dài trên vai, cưu mang một nỗi buồn mà, khi cô ấy bắt đầu hát, đã tạo nên cốt lõi thông điệp của cô ấy.
Trong những bài hát của cô ấy có một nỗi buồn sâu sắc, gần như, có lẽ chạm đến, sự tuyệt vọng. Abrams sinh năm 1999. Bài hát Camden của cô bắt đầu bằng câu, “Tôi chưa bao giờ nói điều đó, nhưng tôi biết rằng tôi không thể hình dung bất cứ điều gì sau tuổi 25“. Bài hát gợi lên nhu cầu che giấu nỗi đau, “chôn vùi gánh nặng cho đến khi nó khuất tầm mắt” trong khi bề ngoài tỏ ra đang ở vạch xuất phát, cho rằng mọi chuyện đều ổn, hy vọng rằng ai đó sẽ “nhận thấy tôi đang cố gắng như thế nào“. Một điệp khúc lặp đi lặp lại như một câu thần chú: “Toàn bộ con người tôi, một vết thương cần khép lại, nhưng tôi lại để mọi sự hở.”
Màn trình diễn bài hát Camden của Abrams ở Madrid đã được một người hâm mộ quay phim và đăng tải lên YouTube, người này viết: “Điên rồ. Không lời nào diễn tả được. Hét lên. Chết lặng. Chết.” Hàng ngàn người đã tham dự buổi hòa nhạc đó. Họ cùng hát theo, tất cả đều thuộc lòng lời bài hát dài, biến nó thành của riêng mình. Nỗi buồn thế giới (Weltschmerz) tuổi teen không phải là điều mới mẻ. Mỗi thế hệ đều tìm ra cách thể hiện nó. Tuy nhiên, có một chất lượng đặc biệt trong lời than thở của thời đại chúng ta. Chúng ta không thể bác bỏ nó như là sự tôn sùng sự u sầu cô độc. Nghe và xem Gracie Abrams hát, người ta không nghi ngờ gì về chiều sâu kinh nghiệm mà từ đó tiếng kêu của cô ấy vang lên. Thật kỳ lạ khi nghe nó được một đám đông trẻ tuổi chật kín hát lên, từng nhịp điệu u sầu: “Tôi chỉ muốn bạn biết, tôi chưa bao giờ giỏi đương đầu. […] Tôi thực sự hy vọng rằng tôi sẽ vượt qua được điều này.” Liệu “hy vọng” có phải là một thuật ngữ thích hợp trong hoàn cảnh này? Trên thực tế, tôi nghi ngờ điều đó. Điều nổi bật trong lời bài hát là sự tuyệt vọng trước một mối đe dọa luôn hiện hữu.
Hầu hết người hâm mộ của Gracie Abrams là các cô gái. Có một định kiến cho rằng các chàng trai thì khác, họ bị thu hút bởi sự nhận thức khắc khổ về những khó khăn trong cuộc sống, những người sẵn sàng gánh chịu chúng với sự mạnh mẽ nam tính, râu rậm rạp. Bất cứ ai ra ngoài trò chuyện với giới trẻ, hoặc dành thời gian trong tòa giải tội, đều biết rằng ranh giới giữa hai giới không còn rõ ràng. Ý thức về sự tổn thương bao trùm thời đại chúng ta như một màn sương mù mờ ảo.
Thật ấn tượng khi sống Mùa Chay trong bối cảnh như vậy, khi chúng ta hướng ánh nhìn vào một thân thể bị thương, sưng tấy và khẳng định rằng niềm hy vọng được tìm thấy ở đây. Trong nhiều thế kỷ, Giáo hội đã thận trọng trong việc phô bày những vết thương của cuộc Khổ nạn của Chúa Kitô. Giáo hội bận rộn diễn đạt bằng lời lẽ nghịch lý vốn tạo nên cốt lõi của lời đề nghị Kitô giáo: rằng trong Chúa Kitô, thần tính và nhân tính đều hiện diện một cách trọn vẹn, rằng người “được sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria” này cũng là “Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh Sáng bởi Ánh Sáng”. Chỉ khi Công đồng Chalcedon tinh chỉnh khuôn khổ khái niệm cần thiết để bảo vệ sự cân bằng này, thì tinh thần Kitô giáo mới được tự do hình dung, không chỉ bằng lời nói mà còn bằng nghệ thuật, bằng hình ảnh, sự hạ mình được tự do đảm nhận của Thiên Chúa làm người. Thánh giá nổi lên như biểu tượng tối cao của Kitô giáo. Nó chiếm vị trí trung tâm trong thực hành thờ phượng, ít nhất là ở phương Tây, nơi những hình ảnh về một Thiên Chúa bị thương trở thành tâm điểm của các nhà thờ và các công trình kiến trúc khác, dần dần hình thành ý thức cộng đồng.
Nhắc nhở các tín hữu Côrintô về việc mình đến giữa họ, thánh Phaolô viết: “Khi tôi đến với anh em, tôi đã không dùng lời lẽ hùng hồn hoặc triết lý cao siêu mà loan báo mầu nhiệm của Thiên Chúa. Vì hồi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô, mà là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá.” Tính trọng tâm tuyệt đối của cuộc Khổ nạn cứu độ của Chúa Giêsu đã thấm nhuần giáo lý của vị giảng đạo vô song này về sự hòa giải, lòng thương xót, sự biến đổi nhờ ân sủng, niềm vui và sự sống đời đời. Cần có lòng can đảm để noi theo gương ngài trong một nền văn hóa cám dỗ chúng ta quảng bá một Tin Mừng hạnh phúc hơn, có thể dự đoán được bằng các quy trình cố định và kết quả đã định sẵn. Xung quanh chúng ta, những lòng nhà thờ được che bóng bởi cây thánh giá của các nhà thờ chính tòa cổ kính được chuyển giao cho sân golf mini. Các thánh đường được sử dụng cho các vở kịch thế tục được thiết kế, trong tuyệt vọng, để thể hiện “sự phù hợp”. Trong khi đó, cách đó không xa, trong đấu trường thế tục, những người trẻ tuổi thất vọng chán chường đu đưa, khẽ hát rằng cuộc sống là một vết thương hở và không có thuốc chữa nào ở Gilead.
Hai xu hướng trái ngược nhau đang chi phối những nỗ lực đương đại để đối phó với những tổn thương. Một mặt, người ta dễ dàng phơi bày những tổn thương mắc phải, thừa kế hoặc tưởng tượng như những dấu hiệu nhận dạng. Họ có thể có những lý do chính đáng, những nguyên nhân dựa trên lời kêu gọi công lý. Nhưng như thánh Bernard đã giải thích, triển vọng về động lực sẽ mất đi nếu chúng ta neo giữ ý thức về bản thân vào sự gắn bó với một vết thương. Chúng ta có nguy cơ bị sa lầy trong sự giận dữ, một đam mê vốn thay thế những khát vọng chữa lành bằng những khẳng định về sự tự cho mình là công chính. Sự giận dữ và phản chiếu của nó, sự cay đắng, có thể giam cầm chúng ta trong nỗi tuyệt vọng tự mãn một cách méo mó.
Mặt khác, có những nỗ lực nhằm xóa bỏ những vết thương. Chúng ta nghe thấy những lời ám chỉ rằng vết thương không nên tồn tại và, nếu có, những chi bị bệnh nên được cắt bỏ. Trong những xã hội trở nên chú trọng giao dịch, những yếu tố không hiệu quả hoặc không đáng yêu không có chỗ đứng. Chúng được coi là những sự cố bất thường, bị đối xử khắc nghiệt. Thái độ này thể hiện rõ trong những tranh cãi đang diễn ra về phá thai và an tử, cũng như trong những cuộc thảo luận lặp đi lặp lại về thuyết ưu sinh. Nó được thấy trong những giấc mơ đen tối về việc loại bỏ những người không mong muốn khỏi xã hội, những người mà một số chính trị gia sẽ cách ly trong các khu bảo tồn hoặc đẩy xuống vực thẳm.
Người ta có thể giải thích sự phát triển này theo nhiều cách khác nhau. Dường như khó có thể phủ nhận rằng sự lu mờ trong nhận thức cộng đồng về hình tượng Đấng Bị Đóng Đinh, Đấng-Bị-Thương-nhưng-Không-Bị-Đánh-Bại, có liên quan đến điều này. Một nền văn minh mà ở một mức độ nào đó, tìm kiếm thước đo của mình trong một hình ảnh vốn khẳng định tầm vóc của sự kiên nhẫn và đau khổ cứu chuộc, đã được thay đổi. Nó có thể học được lòng trắc ẩn, điều không tự nhiên đối với loài người sa ngã.
Lòng tôn kính đối với những vết thương của Chúa Kitô đã xác nhận sự nhạy cảm của người Kitô hữu trong nhiều thế kỷ. Nó được thể hiện qua lòng sùng kính đối với các thánh tích của Cuộc Khổ nạn; qua các Chặng đàng Thánh giá; qua thơ ca và tranh vẽ; qua các tác phẩm âm nhạc từ những khúc than thở thời Phục hưng đến các bản nhạc về Cuộc khổ nạn của Bach và các bản thánh ca thế kỷ XIX. Nó được thể hiện qua việc tôn thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu, vốn lan rộng khắp thế giới sau những cơn thịnh nộ của cách mạng. Cốt lõi của nó là lòng tôn kính đối với mầu nhiệm to lớn của sự đau khổ, yếu tố làm nên thân phận con người như chúng ta biết. Thánh giá cho phép chúng ta chấp nhận thực tại của mình đồng thời khẳng định tính không phải là kết thúc của những vết thương, vốn có thể được chữa lành và trở thành nguồn chữa lành.
Việc bám rễ vào mầu nhiệm đức tin này chính là việc thực hiện một cuộc nổi dậy mang tính xây dựng chống lại một số sai lầm: chống lại sai lầm chính trị cho rằng xã hội, và nhà nước, nên được vận hành theo mô hình tiến hóa vì tính hoàn thiện của con người; chống lại sai lầm nhân học về một tiêu chuẩn chuẩn mực về “sức khỏe” được sử dụng để phân chia giữa những cuộc sống “đáng sống” và những cuộc sống “không đáng sống”; chống lại sai lầm văn hóa gán cho vết thương một sức mạnh định mệnh, chết người; và chống lại sai lầm tâm lý khi đầu hàng trước sự tuyệt vọng, bị mê hoặc bởi giọng nói thì thầm bên tai ta, vào giữa đêm khuya, về những tổn thương sâu kín nhất của ta: “Mọi chuyện sẽ luôn như thế này”.
Cuộc Khổ nạn của Chúa Kitô cho phép chúng ta than khóc mà không giận dữ. Nó mở lòng chúng ta ra với lòng trắc ẩn, vốn là một phạm trù nhận thức thích hợp để chuẩn bị cho một sự hiểu biết đầy ân sủng như của Gióp: “Trước kia, con chỉ được biết về Ngài nhờ người ta nói lại, nhưng giờ đây, chính mắt con chứng kiến.” Chúng ta có thể kêu lên với Đấng Chịu Đóng Đinh và Phục Sinh: “Lạy Chúa con và Thiên Chúa của con!” Tin Mừng nói rằng những vết thương của Chúa Kitô, sau khi Người phục sinh, không bị xóa bỏ, nhưng được làm cho vinh hiển. Những vết thương của thế gian cũng có thể được như vậy khi dầu và rượu của Chúa Kitô được đổ lên chúng.
Đối với những người tin, Thánh Giá vừa mang tính biểu tượng vừa là vật tưởng niệm một sự kiện. Biểu tượng về Cuộc Khổ nạn của Chúa Kitô không phải do chúng ta tạo ra. Nó đã được ban cho chúng ta. Nó giải thích chúng ta, chứ không phải chúng ta giải thích nó. Điều này đáng được nhấn mạnh khi chúng ta đang bơi ngược dòng của chủ nghĩa tư bản biểu tượng, vốn tập trung vào việc “sản xuất tri thức”. Trong thế giới ảo này, “các sự việc” chỉ là những vật nhân tạo. Các câu chuyện, hình ảnh và dữ liệu được buôn bán để duy trì sự thay đổi, từ đó thúc đẩy sự tiêu thụ. Thật khó để hiểu một điều gì đó và đồng thời thay đổi nó. Kết quả là, việc tìm kiếm sự rõ ràng đóng vai trò thứ yếu trong diễn ngôn công cộng hiện nay, với những lời lẽ hoa mỹ phù phiếm và biểu tượng thất thường được thiết kế để gây hoang mang.
Tuy nhiên, con người khao khát sự hiểu biết. Nó được định nghĩa bởi nhu cầu đặt câu hỏi: ‘Tại sao?’ Nó cần tư duy rõ ràng và niềm hy vọng hướng về Chúa Kitô của Giáo hội. Nó cần sự định hướng vững chắc của Giáo hội. Nó cần những biểu tượng hiện thực của Giáo hội, khác biệt với những biểu tượng của thế gian, tập trung vào một thân thể bị tổn thương trong lịch sử, vào sự khao khát sự chết, vào số phận đời đời của ‘toàn thể con người, bao gồm cả thể xác và linh hồn’. Viễn cảnh cao cả của đức tin chúng ta được xây dựng trên những thực tại đã xảy ra và vẫn đang xảy ra, trong sự hiệp thông của thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô. Chúng ta tuyên xưng rằng một Lòng Nhân Từ có sức biến đổi đã thấm đẫm nỗi đau khổ của con người ngay cả trong những biểu hiện cực đoan nhất, vươn tới tận đáy địa ngục, và do đó không có sự u sầu cô độc nào là cuối cùng.
Đó chính là Tin Mừng của chúng ta. Thời đại chúng ta đang kêu gọi Tin Mừng ấy. Những người trẻ tuổi đang than khóc trong công viên với tấm lòng nặng trĩu khao khát Tin Mừng ấy. Họ lắng nghe khi Tin Mừng được trình bày “đầy uy tín” bởi những Kitô hữu có khả năng giải thích và thể hiện chân lý của Tin Mừng một cách không thỏa hiệp, cho thấy quyền năng ân sủng của Chúa Kitô để canh tân và biến đổi cuộc sống.
Tại Clairvaux năm 1139, thánh Bernard đã giảng bài giảng cuối cùng của mình về Thánh vịnh 90 (91) vào đêm vọng Phục Sinh. Bài giảng toát lên niềm vui sướng của một vận động viên vừa hoàn thành cuộc đua. Thánh Biển Đức nói rằng đời sống đan sĩ nên là một Mùa Chay liên tục, luôn hướng về chiến thắng của Chúa Kitô trên sự chết. Mùa phụng vụ cho thấy sự thúc đẩy của cuộc sống của chúng ta. Thánh Bernard đã nói rõ điều này. Những thử thách trong cuộc sống là những cơn đau sinh nở. Chúng giúp chúng ta khám phá ra ý nghĩa của việc sống: “Chúng ta sống trọn vẹn khi cuộc sống tràn đầy sức sống và mang lại sự sống.” Chúng ta sinh ra để sinh hoa kết trái. Có một “niềm hy vọng vinh quang” trong hoạn nạn, thánh Bernard nói với các đan sĩ của mình trước khi ngài tự sửa lại và nói, không, vinh quang nằm trong hoạn nạn, giống như trái nằm trong hạt giống. Ngài thốt lên: “Thưa anh em, vinh quang ẩn giấu trong hoạn nạn ngay bây giờ; cõi vĩnh hằng ẩn giấu trong khoảnh khắc hiện tại, một sức nặng cao cả, vô cùng lớn lao trong sự nhẹ nhàng này.”
Sự đảo ngược đã hoàn tất. Những gì đè nặng chúng ta giờ đây thiếu đi bản chất bền vững. Sức nặng của vinh quang kéo chúng ta lên cao, hướng tới một vinh quang huy hoàng, muôn màu muôn vẻ. Được đình hình định dạng để được chia sẻ trọn vẹn trong đời sống của Chúa Kitô, chúng ta sẽ biết được niềm vui kiên nhẫn của Thiên Chúa, Đấng tuyên bố trong Thánh vịnh 90: “lúc hoạn nạn có Ta ở kề bên”. Ngài cũng phán: “Ta đùa vui với con cái loài người”. Thánh Bernard đáp lại: “Ôi Đấng Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta!” Ngài nói thêm: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà”, khéo léo phác họa đặc tính của Đức Mẹ Maria về sự tăng trưởng nhờ ân sủng hướng đến sự trưởng thành Kitô hữu đích thực. Thiên Chúa biết điều chúng ta mong muốn và khát khao, điều gì hợp khẩu vị của chúng ta. Chúng ta không được bằng lòng với những điều quá nhỏ bé. Chúng ta phải biết và tuyên bố, chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh của ai, chúng ta có khả năng đạt được sự vĩ đại nào nhờ ân sủng.
Sáng hôm sau khi giảng bài giảng cuối cùng này, thánh Bernard sẽ mở cuốn Ca tiến cấp của mình để hát khúc ca nhập lễ của Lễ Phục Sinh: bài Resurrexi tuyệt đẹp ở quảng sáu, giọng “trang nghiêm”, một biểu hiện âm nhạc của sự trang nghiêm dâng trào. Bản nhạc phụng vụ này loan báo sự phục sinh với sự kinh ngạc thầm lặng. Nó nâng lời ca ngợi của Giáo hội trước ngôi mộ trống lên vòng tay yêu thương vĩnh cửu của Chúa Ba Ngôi. Cuối cùng được kéo vào vòng tay ấy bởi sự chiến thắng Phục Sinh của Chúa Kitô, chúng ta sẽ nhìn thấy như chúng ta được nhìn thấy, biết như chúng ta được biết. Cuối cùng chúng ta sẽ yêu thương một cách trọn vẹn.
Hiện tại, chúng ta vẫn biết và thấy được một phần nào đó khi chúng ta tỉnh thức trong đêm tối. Chúng ta làm việc. Chúng ta phục vụ. Chúng ta giảng dạy. Chúng ta chiến đấu khi cần thiết. Chúng ta cố gắng yêu thương và tôn trọng lẫn nhau, mắt luôn hướng về Chúa Giêsu, Đấng tiên phong của đức tin chúng ta. Người, Chiên Thiên Chúa, là ngọn đèn của chúng ta. Ánh sáng nhân từ của Người, ngay cả khi ẩn giấu, vẫn tràn đầy niềm vui.
Erik Varden, Giám mục giáo phận Trondheim (Na Uy).
————————————–
Tý Linh chuyển ngữ
(nguồn : Vatican News)

