Bài giảngLưu trữ

CÁC MỐI PHÚC TIN MỪNG

TÁM CHẶNG ĐƯỜNG ĐI TỚI HẠNH PHÚC – CÁC MỐI PHÚC TIN MỪNG Đức Hồng y Raniero Cantalamessa 01/05/2026

TÁM CHẶNG ĐƯỜNG ĐI TỚI HẠNH PHÚC – CÁC MỐI PHÚC TIN MỪNG

Đức Hồng y Raniero Cantalamessa

01/05/2026

WGPĐL (04/4/2026) – “Tám chặng đường đi tới hạnh phúc – Các mối phúc Tin mừng” là tác phẩm của Đức Hồng y Raniero Cantalamessa, Giảng thuyết viên phủ Giáo hoàng. Bản dịch Việt ngữ tác phẩm này do Linh mục Micae Trần Đình Quảng thực hiện.
LỜI TỰA

I. “PHÚC THAY AI CÓ TÂM HỒN NGHÈO KHÓ, VÌ NƯỚC TRỜI LÀ CỦA HỌ”

1. “Nghèo khó” và “có tâm hồn nghèo khó”

2. Cách cắt nghĩa “thần học” không đủ

3. Sự nghèo khó trong cuộc đời Đức Giêsu

4. “cho người nghèo” và sống “nghèo”

5. Tại sao chọn sống nghèo?

6. Tính thời sự của Mối Phúc nghèo khó

II. “PHÚC CHO ANH EM LÀ NHỮNG KẺ BÂY GIỜ ĐANG PHẢI KHÓC, VÌ ANH EM SẼ ĐƯỢC VUI CƯỜI”

1. Tương quan mới giữa lạc thú và đau khổ

2. “Này Thiên Chúa ngươi đâu?”

3. “Chớ gì các linh mục, những thừa tác viên của Chúa, hãy khóc lên!”

4. Những giọt lệ đẹp đẽ nhất

III. “PHÚC THAY AI HIỀN LÀNH, VÌ HỌ SẼ ĐƯỢC ĐẤT HỨA LÀM GIA NGHIỆP”

1. Hai chìa khóa giúp đọc các Mối Phúc

2. Đức Giêsu, con người hiền lành

3. Hiền lành và khoan dung

4. Với lòng hiền hòa và kính trọng

5. “Hãy học với tôi vì tôi hiền lành”

6. Mặc lấy những tâm tình hiền lành của Đức Kitô

IV. “PHÚC CHO ANH EM LÀ NHỮNG KẺ BÂY GIỜ ĐANG PHẢI ĐÓI, VÌ THIÊN CHÚA SẼ CHO ANH EM ĐƯỢC NO LÒNG”

1. Lịch sử và Thần Khí

2. Ai là người “đói khát” và ai là người “no thỏa?”

3. Một dụ ngôn cho ngày hôm nay

4. “Phúc thay ai khao khát nên người công chính”

5. Bánh vật chất và bánh Thánh thể

V. “PHÚC THAY AI XÓT THƯƠNG NGƯỜI, VÌ HỌ SẼ ĐƯỢC THIÊN CHÚA XÓT THƯƠNG”

1. Lòng thương xót của Đức Kitô

2. Một Thiên Chúa thích thể hiện lòng thương xót

3. Lòng thương xót của ta: lý do hay hiệu quả của lòng Chúa thương xót?

4. Kinh nghiệm về lòng thương xót của Thiên Chúa

5. Một Giáo Hội “giầu lòng thương xót”

6. “Hãy mặc lấy những tình cảm thương xót”

VI. “PHÚC THAY AI CÓ TÂM HỒN TRONG SẠCH, VÌ HỌ SẼ ĐƯỢC NHÌN THẤY THIÊN CHÚA”

1. Từ sự trong sạch theo nghi thức đến sự trong sạch trong tâm hồn

2. Nhìn vào lịch sử

3. “Người có hai cuộc đời”

4. Một loại giả hình tập thể

5. Sự giả hình tôn giáo

VII. “PHÚC THAY AI XÂY DỰNG HÒA BÌNH, VÌ HỌ SẼ ĐƯỢC GỌI LÀ CON THIÊN CHÚA”

1. Ai là người xây dựng hòa bình?

2. Sứ điệp của Ngày thế giới cầu nguyện cho hòa bình

3. Hòa bình là một quà tặng

4. Hòa bình là một trách nhiệm

5. Hòa bình tôn giáo

6. Một hòa bình không tôn giáo ?

VIII. “PHÚC THAY AI BỊ BÁCH HẠI VÌ SỐNG CÔNG CHÍNH, VÌ NƯỚC TRỜI LÀ CỦA HỌ”

1. Hai lý do bách hại: sự công chính và danh Đức Kitô

2. Hai hình thức bách hại: giết chết và gạt ra bên lề

3. Điều làm nên sự tử đạo đích thật: tình yêu, sự khiêm nhường và ân sủng

4. Bị bách hại cách chính đáng hay không chính đáng?

5. Trước khi xuống núi

PHỤ LỤC

Xét mình dựa trên các Mối Phúc

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

LỜI TỰA

Cuốn sách này thu tập những bài suy niệm về các Mối Phúc Tin Mừng tôi đã trình bầy tại Phủ Giáo hoàng, có Đức Bênêđitô XVI hiện diện, trong Mùa Vọng 2006 và Mùa Chay 2007.

Ngay trong Tân Ước, các Mối Phúc đã được khai triển và áp dụng cách khác nhau, tùy theo thần học của tác giả sách Phúc Âm ghi lại các Mối Phúc, và tùy theo những nhu cầu của cộng đồng ngài viết cho họ. Các nhà chú giải phân biệt ba giai đoạn trong tiến trình này: bản gốc thuật lại các Mối Phúc như được chính Đức Giêsu nói lúc còn sống ở trần gian; bản trung gian theo truyền khẩu trước khi sách Phúc Âm được viết ra, trong đó người ta thấy đã có lời giải thích đầu tiên; bản sau cùng đến với chúng ta trong các sách Phúc Âm Luca và Matthêu, như bạn thấy sau lời mở đầu này. Chúng ta sẽ thấy điều đó trong công trình nghiên cứu đồ sộ của Jacques Dupont về các Mối Phúc[1] mà tôi sẽ có dịp trình bầy – và đôi khi tranh luận – những kết luận chính trong các bài suy niệm này.

Tiếp tục tin vào tính chất độc đáo này muốn nói lên rằng ngày hôm nay chúng ta vẫn còn đọc các Mối Phúc dựa vào những tình huống mới mẻ chúng ta đang sống, dĩ nhiên không quên rằng sự diễn giải của các tác giả sách Phúc Âm đều được linh hứng và do đó có tính quy phạm cho mọi người và luôn mãi, trong khi những diễn giải của ngày hôm nay không thể đòi hỏi đặc quyền ấy.

Chúng ta có thể áp dụng cho các Mối Phúc điều thánh Grêgôriô Cả nói vế tất cả Kinh Thánh, tức là Kinh Thánh cum legentibus crescit[2] (tăng trưởng cùng với người đọc), luôn mạc khải những hàm ý mới và một nội dung phong phú hơn, tùy theo những đòi hỏi và những vấn nạn mới khi đọc Kinh Thánh. Chính trong tinh thần này mà tôi muốn suy tư về các Mối Phúc, nghĩa là tôi sẽ tìm cách soi sáng cuộc sống khởi đi từ các Mối Phúc, và các Mối Phúc khởi đi từ cuộc sống.

Theo Matthêu, để công bố các Mối Phúc, Đức Giêsu đã lên núi, và chúng ta cũng sẽ làm như vậy để suy niệm các Mối Phúc. Mỗi bài suy niệm sẽ là dịp vượt qua một bậc, để leo hết ngọn núi “tám bậc này.”

Matthêu 5,3-12

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.

Phúc thay ai sầu khổ, vì sẽ được Thiên Chúa ủi an.

Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng.

Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ

Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.

Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.

Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giầu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi.

Luca 6, 20-26

Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì nước Thiên Chúa là của anh em.

Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng.

Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười.

Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như tội đồ xấu xa.

Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế.

Khốn cho các ngươi là những kẻ giầu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi.

Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói.

Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười, vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than.

Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế.

I. “PHÚC THAY AI CÓ TÂM HỒN NGHÈO KHÓ, VÌ NƯỚC TRỜI LÀ CỦA HỌ”

1. “Nghèo khó” và “có tâm hồn nghèo khó”

Về Mối Phúc thứ nhất, trước tiên có vấn đề văn thể, do cùng một Mối Phúc lại được hai tác giả Matthêu và Luca thuật lại hơi khác nhau. Một người dùng kiểu nói gián tiếp: “Phúc thay những người nghèo khó”, người kia dùng kiểu nói trực tiếp: “Phúc cho anh em là những người nghèo”; một người dùng kiểu “có tâm hồn nghèo khó”, người kia chỉ thuần túy nói “nghèo khó”.

Cách giải thích dễ chấp nhận nhất dường như là công nhận rằng cả Matthêu lẫn Luca đều tùy thuộc vào một nguồn chung chỉ thuần túy nói “nghèo khó”. Luca quan tâm nhấn mạnh tầm quan trọng xã hội của hạn từ, nên giữ nguyên kiểu nói ấy, thậm chí còn tăng cường bằng cách đối lại câu “Phúc cho anh em là những người nghèo” bằng câu “Khốn cho các ngươi là những kẻ giầu có” (Lc 6,24). Matthêu có ý định huấn giáo nên vội làm rõ ý nghĩa tôn giáo của chữ “nghèo khó” trong tu đức học Do thái và trong tư tưởng của Đức Giêsu, khi thêm những chữ “có tâm hồn”. Trong số những cách giải thích hiện nay, một số người nhấn mạnh ý nghĩa tôn giáo như Matthêu, một số khác nhấn mạnh ý nghĩa xã hội như Luca.

Đối với những người thuộc nhóm trước, “có tâm hồn nghèo khó” chỉ ra một thái độ nội tâm hơn là một quy chế xã hội. Theo họ, Đức Giêsu không có ý định chúc phúc cho một tầng lớp xã hội. Chỉ một tình huống tâm linh là có thể liên kết với một thực tại tâm linh như Nước Trời. Sự nghèo khó đích thực quả là một con đường ưu đãi hướng tới sự nghèo khó trong tâm hồn, và Đức Giêsu lặp lại điều đó bằng rất nhiều cách. Tuy vậy không nên nghĩ rằng những người vô sản và những người mà Do thái giáo thời ấy gọi là “những người chân lấm tay bùn” được nói đến trong các Mối Phúc. Người nghèo khó đích thực của Phúc Âm là người “được Thiên Chúa che chở”, hoàn toàn cậy dựa vào Thiên Chúa, hoàn toàn tùy thuộc vào Người trong đức tin. Nơi người Do Thái thời ấy, hạn từ “nghèo khó” thực tế đồng nghĩa với thánh thiện (hasid) và đạo đức[3]. Các Giáo Phụ coi người “có tâm hồn nghèo khó” hầu như đồng nghĩa với người “khiêm nhường”[4].

Những người dựa vào bản văn Luca nhấn mạnh tính chất xã hội của các Mối Phúc, tiên vàn thấy ở đó một điều kiện xã hội, một tình trạng cụ thể của đời sống được diễn tả bằng hạn từ “nghèo khó”. Theo họ, cách giải thích truyền thống quá nhấn mạnh đến những tâm thái bên trong của người nghèo, và để ý quá ít đến bản tính của Nước Thiên Chúa đang đến. Họ nói rằng các Mối Phúc trước hết là một mạc khải về lòng thương xót và sự công bình, là những điều phải làm rõ nét Nước Thiên Chúa. Chúng chứa đựng mạc khải về Thiên Chúa hơn là về con người hay người nghèo. Thuật ngữ dùng trong Phúc Âm để chỉ những người nghèo (ptochoi) là chỉ những người bần cùng, bất hạnh, đói khát, những người cần của bố thí để sống. Thuật ngữ hipri tương ứng là anawim, theo nguồn gốc, chỉ những người “khòm lưng”, “uốn gối”, tức là những người hèn hạ, chịu nhục nhã, bị ức hiếp.

Người ta tự hỏi vì sao mà những con người đó lại được Thiên Chúa chiếu cố? Người ta hẳn phải trả lời không phải đặc biệt vì những công trạng tôn giáo của họ, cũng không phải vì những tâm thái tốt của họ, nhưng do Thiên Chúa, vì là một vị vua công bình, phải bảo vệ những ai không được bảo vệ. Theo não trạng Cựu Ước, người nghèo là những “người được đức vua bảo vệ”.

Vậy thì trong trường hợp này, chúng ta cắt nghĩa thế nào về tình trạng nghèo khó và áp bức người nghèo vẫn còn tồn tại ngay cả nơi Israel, chung quanh Đức Giêsu, trong khi Nước Thiên Chúa đã đến? Dù những sự kiện cho thấy điều ngược lại, không nên từ bỏ xác tín này về sự công bình hoàn toàn của Thiên Chúa, nhưng dự kiến nó trong tương lai. Khi ấy, người nghèo sẽ được báo thù tất cả những ai đã bức bách họ, và họ sẽ thực sự được hưởng những sự lành do Thiên Chúa quan tâm ban cho họ[5].

2. Cách cắt nghĩa “thần học” không đủ

Sau đây là hai cách giải thích chính về Mối Phúc dành cho những người nghèo. Một cách, như người ta thấy, nghiêng về giải thích sự nghèo khó như một “tình trạng tâm hồn”, cách kia như một “tình trạng xã hội”. Trong cả hai trường hợp, chính Nước Thiên Chúa thay đổi tình huống của người nghèo, nhưng trong trường hợp trước, điều đó giả thiết một tâm thái nơi con người, còn trong trường hợp sau, chỉ đòi hỏi của Thiên Chúa đối với mình là đáng kể. Tách riêng ra, không chủ đề nào trong hai làm người ta thỏa mãn hoàn toàn. Chủ đề trước khai trừ quá đáng sự quy chiếu tới xã hội, tới thực tại nghèo khó; chủ đề sau lại triệt để khai trừ những tâm thái bên trong của người nghèo.

Tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh những bất tiện của cách giải thích thứ hai biến sự nghèo khó thành một vấn đề thần học, đưa mọi sự tùy thuộc vào Thiên Chúa. Nó không cắt nghĩa mối dây liên kết chặt chẽ thấy có trong Phúc Âm, giữa khái niệm nghèo khó và khái niệm khiêm nhường, giữa đặc ân của người nghèo và đặc ân của trẻ em. Hơn nữa, cách cắt nghĩa này, hiểu cho chặt chẽ, thực ra chẳng đi đến đâu. Công cuộc giải phóng người nghèo trên bình diện xã hội học hẳn phải được Nước Thiên Chúa thực hiện, nhưng rồi khi phân tích bản tính của Nước này, người ta thấy điều đó không mang lại gì mới trong tình huống cụ thể của họ, vì không làm cho họ được giầu có hơn hay thỏa mãn hơn về vật chất.

Thế nên cách giải thích hiện đại này xem ra chỉ lưu ý tới mặt xã hội. Như thế là có nguy cơ công cụ hóa sự nghèo khó, chỉ biến nó thành cơ hội để Thiên Chúa bày tỏ sự công bình cao cả của Ngài. Không kể, ngay trong trường hợp này, sự thực hiện ở trên một bình diện hoàn toàn khác với bình diện của lời hứa và chờ đợi: người ta hứa cho người nghèo được giải thoát khỏi cảnh nghèo vật chất, nhưng sự giải thoát này cuối cùng chỉ thuộc bản chất thiêng liêng.

Chắc chắn Đức Giêsu quan tâm đến những người thật sự nghèo, nhưng Ngài không làm như thế khi chúc phúc cho những người nghèo, cho bằng khi Ngài thấy điều được làm cho họ hay không được làm cho họ như thể người ta đã làm điều đó cho Ngài, và Ngài đe phạt hỏa ngục những người không quan tâm đến người nghèo, như trong dụ ngôn ông nhà giầu và Ladarô.

Trong trường hợp của chúng ta, khó khăn là do người ta sử dụng phạm trù “công trạng” và “nhân đức” nơi mà lẽ ra nên sử dụng phạm trù “đức tin”. Thiên Chúa không hành động ủng hộ người nghèo vì công trạng hay những tâm thái đạo đức của họ, nhưng vì tình trạng của họ sẵn sàng nhất để tin. Điều Thiên Chúa đánh giá cao nơi người nghèo không phải điều họ có cho bằng điều họ không có: khả năng tự túc, đóng cửa, tự phụ mình cứu nổi mình. Nghĩ ngược lại tức là cho rằng Nước Trời được trao ban tiên vàn cho những người thu thuế và gái điếm, vì Thiên Chúa ưu đãi “tình trạng” này, chứ không phải vì họ có khả năng hối lỗi, trong khi người công chính giả hiệu không có khả năng đó.

Đây không phải là xem hành động của Thiên Chúa giả thiết một điều gì đó phải có trước : rõ ràng không phải là trường hợp ở đây; đúng hơn là xem một việc đáp lại nào đó cần phải có. Người nghèo phải nhận ra và đón nhận sự ban tặng ưu đãi này của Thiên Chúa; chung quy là người đó phải tin. Thánh Giacôbê nói: “Nào Thiên Chúa đã chẳng chọn những kẻ nghèo khó trước mặt người đời để họ trở nên những người giầu đức tin… sao?” (Gc 2,5).

Chúng ta đọc Mối Phúc: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó vì Nước Trời là của họ” dưới ánh sáng của nhị thức ân sủng – đức tin: “Quả vậy, chính do ân sủng và nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ” (Ep 2,8). Trong Mối Phúc này, Nước Thiên Chúa biểu thị sự ban ơn, sự nghèo khó trong tâm hồn, sự đáp ứng của đức tin. Người “có tâm hồn nghèo khó” là người nghèo “có lòng tin”. Như thể Đức Giêsu nói: Phúc cho anh em là những người nghèo khó, “vì anh em đã tin” (đừng quên là Ngài nói với những người đã theo Ngài, với cùng một cách như trong câu “Khốn cho các ngươi” lúc Ngài nói với những kẻ thực tế đã chán ghét Ngài); hoặc: Phúc cho anh em “nếu anh em tin”. Đức tin là nền tảng của mọi diễn từ Đức Giêsu nói.

Thế nên chúng ta phải tìm phương thức giải đáp cho những vấn nạn bằng cách tổng hợp hai viễn tượng trên. Phải liên kết chứ không đối nghịch “những người nghèo khó” của Luca với “những người có tâm hồn nghèo khó” của Matthêu. Khi thêm “có tâm hồn” vào chữ “nghèo khó”, thì không chỉ là công việc của huấn giáo, mà còn là công việc của chú giải: Matthêu cho thấy rõ một thành tố mặc nhiên, nhưng có thực, của khái niệm nghèo khó trong cách sử dụng của Đức Giêsu.

3. Sự nghèo khó trong cuộc đời Đức Giêsu

Cách chú giải tốt nhất về Mối Phúc nghèo khó là chính cuộc đời của Đức Kitô. Thánh Phaolô viết: “Đức Giêsu Kitô, vốn giầu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có” (2Cr 8,9). Ở đây, chắc chắn Phaolô thật sự nói về sự nghèo khó vật chất của Đức Kitô. Ý nghĩa đích thực là như thế này: trong tư thế giầu có, Đức Kitô đã làm cho mình thành nghèo khó về phương diện vật chất, để làm cho chúng ta giầu có về phương diện thiêng liêng. Theo chú giải của thánh Tôma, “Ngài chịu nghèo khó về vật chất, để ban cho ta những của cải thiêng liêng”[6]. Điều này không làm cho con người giàu có hơn về của cải trần thế, nhưng biến họ thành những con cái của Thiên Chúa và những người thừa hưởng đời sống vĩnh cửu.

Sự nghèo khó của Đức Kitô trước hết có một khía cạnh cụ thể, hiện sinh, gắn chặt với Ngài từ lúc sinh ra tới lúc chết. Chân phước Angêla Folignô đã viết một trang rất sâu sắc về sự nghèo khó của Đấng Cứu Thế:

“Sự nghèo khó” có ba cấp độ. Cấp thứ nhất về sự nghèo khó hoàn hảo của Đức Kitô là Ngài muốn sống nghèo đối với mọi của cải trần gian của thế giới này. Ngài không muốn mình có một căn nhà, một thửa đất, một vườn nho, một tài sản nào khác, không muốn tiền bạc, dù chỉ một xu. Ngài chịu nghèo khó, đói khát, nóng bức và lạnh giá, mệt nhọc, thiếu thốn. Ngài không có những của cải tinh vi và đắt giá… Cấp nghèo khó thứ hai là Ngài lựa chọn sống nghèo về bà con và bạn hữu…Cấp nghèo khó thứ ba là Ngài muốn lột bỏ chính mình. Ngài muốn trở thành nghèo về sức mạnh thần linh, về sự khôn ngoan và vinh quang của mình[7].”

Như vậy là nghèo về của cải vật chất, nghèo chỗ nương tựa, nghèo về uy tín. Cấp độ nghèo khó thứ ba sâu sắc hơn hết, vì đụng chạm tới cái mình là, chứ không chỉ cái mình có. Đối với Đức Kitô, nghèo ở cấp độ này là ở chỗ làm người, hủy bỏ mình, nếu không hủy bỏ thiên tính thì ít ra hủy bỏ tất cả những gì Ngài hẳn có thể đòi hỏi nhờ thiên tính, như vinh quang, sang trọng, huy hoàng. Thánh Grêgoriô Nyssê nói: “Có gì nghèo khó đối với Thiên Chúa hơn là thân phận nô lệ? Có gì khiêm nhường hơn là chia sẻ bản tính của chúng ta?[8]” Nơi Đức Kitô, sự nghèo khó nổi bật dưới hình thức cao cả nhất, không phải hình thức là người nghèo (đây có thể là một tình huống thực tế bị bắt buộc hoặc do thừa kế), nhưng là hình thức làm cho mình trở nên nghèo, và làm như thế vì tình yêu, để làm cho người khác được giầu có.

Tuy vậy, về sự nghèo khó vật chất của Đức Giêsu, có lẽ có những nguồn chung phải điều chỉnh dựa trên một cách đọc Phúc Âm chăm chú hơn. Cứ như những gì chúng ta biết, do điều kiện xã hội của Ngài, Đức Giêsu không thuộc về tấng lớp vô sản thời ấy, nghĩa là tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội. Ngài là một người thợ thủ công, sinh nhai bằng lao động của mình, một điều kiện tốt hơn là điều kiện của một lao động tùy thuộc. Thậm chí trong suốt cuộc đời công khai của Ngài, uy tín của một rabbi mà Ngài có, những lần mời mọc ngay cả từ những người khá giả, những tình bạn Ngài kết thân như với Lazarô và các chị của anh, sự giúp đỡ từ một vài phụ nữ có của (x. Lc 8, 2tt) là những yếu tố không thể cho phép chúng ta coi Ngài như một người nghèo nhất. Người ta hiểu lý do của câu “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9,58) khi nghĩ tới điều kiện của Ngài là một người đi rao giảng lưu động, không có chỗ cố định, hơn là vì thiếu một mái ấm, cho dù có lúc xẩy ra như vậy.

Về phương diện vật chất đích danh, vào thời kỳ ấy, chắc chắn có những người nghèo hơn Ngài, có cả những đám người mất phần gia tài mà chính Ngài chạnh lòng thương khi thấy họ “lầm than vất vưởng” (Mt 9,36). Ngay cả trong số các môn đệ tương lai, chẳng hạn một số nhà khổ hạnh và ẩn tu trong sa mạc, có những người còn khắc khổ và nghèo khó về vật chất hơn cả Thầy mình.

Điều mập mờ là người ta gán một giá trị thái quá cho những cách biểu lộ bên ngoài và vật chất của sự nghèo khó. Đức Giêsu đã không bao giờ cho mình là nghèo nhất, trong khi ngược lại Ngài làm như thế về đức bác ái, khi nói rằng không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình (x. Ga 15,13). Ngài cũng được tự do trước sự nghèo khó của mình, như Ngài đã tự do trong việc ăn uống, đến nỗi bị coi như một người tham ăn tham uống, một điều không làm Ngài quá bực tức. Về phương diện khổ hạnh, Vị Tiền Hô còn nghiêm nhặt hơn Ngài.

Đức Giêsu không rơi vào bẫy như một số người bắt chước Ngài, tức là tuyệt đối hóa sự nghèo khó vật chất, coi đó là mức độ hoàn thiện, để rồi cuối cùng trở nên giầu có theo cách thức tệ hại nhất: bằng chính mình và sự công chính riêng của mình. Người ta không thể gán một giá trị tuyệt đối cho những sự vật vật chất, một điểm mà người ta không thể vượt qua. Dù muốn nghèo khó, người ta sẽ thấy luôn có người nghèo hơn mình. Sự nghèo khó vật chất là một cái giếng không đáy.

Điều làm cho nghèo khó có một giá trị tôn giáo, chính là động cơ khiến người ta chọn lối sống nghèo, và trong trường hợp của Đức Kitô, động cơ đó là tình yêu: “Người vốn giầu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo mà làm cho anh em trở nên giầu có” (2Cr 8,9). Quà tặng quý giá, đặc biệt khi đó là kết quả của một sự trần trụi, khi người ta chịu thiếu thốn cái người ta ban tặng. Một cách nào đó, Ngôi Lời đã bị tước đi sự phong phú thần linh của mình, để có thể làm cho chúng ta được hưởng lợi. Sự nghèo khó của Thiên Chúa là một cách biểu lộ agapè của Ngài, hữu thể của Ngài là “tình yêu”. Các triết gia khuyển nho thời Đức Giêsu đã sống nghèo về vật chất, và dưới một số khía cạnh còn triệt để hơn sự nghèo khó của Ngài, nhưng sự nghèo khó ấy không phải do tình yêu đối với con người gợi hứng; đúng hơn đó là một sự thách đố đối với họ, để chứng minh sự độc lập và ưu việt của con người đối với thiên nhiên và sự vật.

4. “cho người nghèo” và sống “nghèo”

Cùng lúc Đức Kitô đến, người ta nhận thấy có một bước nhảy vọt về phẩm chất trong lãnh vực nghèo khó. Có thể tóm tắt như sau: Cựu Ước cho thấy một Thiên Chúa cho người nghèo, còn Tân Ước cho thấy một Thiên Chúa trở nên nghèo. Trong Cựu Ước, có nhiều bản văn nói Thiên Chúa là Đấng “lắng nghe tiếng kêu than của những người nghèo”“thương xót những người yếu đuối và nghèo khó”“bảo vệ người lầm than”, “thực hiện công bình cho người bị áp bức”; thế nhưng chỉ có Phúc Âm cho ta biết một Thiên Chúa làm một người trong số họ, chọn cho mình sự nghèo khó và yếu đuối. Sự nghèo khó vật chất, một điều xấu phải tránh, có được khía cạnh của một điều tốt phải vun trồng, một lý tưởng phải theo đuổi. Đó là sự mới mẻ lớn lao mà Đức Kitô mang lại.

Bằng cách này, hai thành tố chủ yếu của lý tưởng nghèo khó được nói rõ: “cho người nghèo” và sống “nghèo”. Lịch sử nghèo khó Kitô giáo là lịch sử của cách tấn công trực diện vào hai đòi hỏi này. Điều đó phản ánh, chẳng hạn, trong những cách giải thích khác nhau về câu chuyện chàng thanh niên giầu có (x. Mt 19,16 tt). Có khi người ta nhấn mạnh là anh phải “bán hết tài sản”, khi khác nhấn mạnh anh phải “đem cho người nghèo”; nghĩa là có khi người ta nhấn mạnh phải bỏ hết mọi sự để theo Đức Giêsu một cách triệt để, khi thì nhấn mạnh mối quan tâm đến người nghèo[9].

Thời Thượng cổ, chống lại cách giải thích của phái Encratít, một phái cấp tiến chủ trương chối bỏ hoàn toàn (encrateia) hôn nhân và sự sở hữu, là cách giải thích hòa giải của một Clêmentê Alexanđria. Đến lượt tác giả này lại có nguy cơ đi đến chỗ thái quá ngược lại khi quả quyết rằng, điều đáng kể không phải là sự nghèo khó cho bằng việc người ta sử dụng của cải:

“Người nào coi của cải, vàng bạc, nhà cửa như là những ân huệ của Thiên Chúa, và dâng cho Ngài những cái đó để tôn kính Ngài, cộng tác bằng những gì mình có vào việc cứu độ những người khác, thì đó là người được Chúa chúc phúc và có tâm hồn nghèo khó[10].”

Người ta thấy một tổng hợp đầu tiên và một sự quân bình giữa hai trường hợp này trong suy nghĩ của những người như thánh Basiliô và thánh Augustinô, và trong kinh nghiệm đan tu được các ngài khởi xướng. Các ngài kết hợp sự nghèo khó cá nhân triệt để nhất với sự quan tâm tương tự dành cho người nghèo và người bệnh, được cụ thể hóa trong các định chế tiên liệu cho mục đích này, là những định chế, trong một số trường hợp, sẽ trở thành kiểu mẫu cho các hoạt động từ thiện của Giáo Hội.

Thời Trung cổ, trong một bối cảnh lịch sử khác, chúng ta chứng kiến chu trình này được lặp lại. Giáo Hội, cách riêng các dòng đan tu cũ ở Tây phương, trở nên giầu có, thực hiện sự nghèo khó hầu như chỉ dưới hình thức giúp đỡ người nghèo, khách hành hương, nghĩa là quản lý các định chế bác ái. Ngược với tình trạng này, từ đầu thiên niên kỷ thứ hai, có những phong trào tự nhận là những người nghèo, đặt ưu tiên cho việc thực hành hữu hiệu sự nghèo khó, đưa Giáo Hội trở về với sự đơn sơ và nghèo khó của Phúc Âm. Như vậy, sự quân bình và tổng hợp được thực hiện lần này do các dòng tu hành khất. Các dòng tu này cố gắng thực hành sự từ bỏ triệt để, đồng thời chăm sóc yêu thương những người nghèo khó, phong cùi, nô lệ, nhất là sống nghèo khó trong tình hiệp thông với Giáo Hội, chứ không đi ngược lại Giáo Hội.

Với tất cả sự thận trọng cần thiết, có lẽ chúng ta có thể thoáng thấy một biện chứng tương tự trong thời kỳ hiện nay. Sự bùng nổ của ý thức xã hội trong thế kỷ vừa qua và sự bùng nổ của vấn đề vô sản đã lại phá vỡ sự quân bình, thúc đẩy bỏ qua một bên lý tưởng nghèo khó tự ý, tự chọn và được sống theo Đức Kitô, để quan tâm đến vấn đề những người nghèo. Mối bận tâm đến người nghèo thắng thế hơn lý tưởng về một Giáo Hội nghèo, là điều được diễn tả qua vô vàn sáng kiến và định chế mới mẻ, nhất là trong lãnh vực giáo dục trẻ em nghèo và giúp đỡ những người bị bỏ rơi nhất. Học thuyết xã hội của Giáo Hội cũng là kết quả của bầu khí thiêng liêng này.

Chính Công đồng Vaticanô II đã đưa lên hàng đầu diễn từ về “Giáo Hội và sự nghèo khó”, nhất là sau bài phát biểu được nhiều người biết đến của Đức Hông Y Lercaro. Về vấn đề này, người ta đọc thấy trong Hiến chế về Giáo Hội:

“Như Chúa Kitô đã hoàn tất công trình cứu chuộc trong nghèo khó và bách hại, Giáo Hội cũng được mời gọi đi cùng đường lối ấy… Chúa Kitô được Chúa Cha phái đến để “rao truyền Phúc Âm cho kẻ bần cùng” […] cứu chữa các tâm hồn đau khổ” (Lc 4,18), “tìm kiếm và cứu vớt những gì đã hư mất” (Lc 19, 10). Cũng thế, Giáo Hội trìu mến và ấp ủ tất cả những ai đau khổ vì sự yếu hèn của con người, nhất là nhận biết nơi những kẻ nghèo khó và đau khổ hình ảnh Đấng Sáng Lập nghèo khó và khố đau, ra sức giảm bớt nỗi cơ cực của họ và nhằm phụng sự Chúa Kitô trong họ[11].”

Trong bản văn này, người ta thấy cùng một lúc hai tình huống “nghèo và phục vụ người nghèo”. Người ta không bảo hai khía cạnh này phải và có thể được mỗi người tín hữu hoặc mỗi loại tín hữu vun đắp cùng một cách. Quả thực người ta cũng phải nhớ đến học thuyết về các đặc sủng và những chức năng khác nhau được gán cho mỗi chi thể của thân thể Đức Kitô. Dường như thánh Phaolô kể vào số các đặc sủng thậm chí việc lột bỏ mình và tự ý từ bỏ của cải cho người khác. Đối với ngài, đặc sủng là việc “cho cách chân thành”, và việc “đem hết gia tài mà bố thí”, cũng như nói tiên tri, nói các tiếng lạ, sự hiểu biết, trong cùng bối cảnh, cũng là những đặc sủng (x. 1Cr 13,3).

Vậy chính nơi một số chi thể và dòng tu của mình mà Giáo Hội bày tỏ Đức Kitô nghèo khó cách tốt nhất; nói khác đi, Đức Kitô gánh lấy nơi Ngài “các tật nguyền và các bệnh hoạn” của người nghèo (x. Mt 8,13). Sự viên mãn của Thần Khí và các ân huệ của Thần Khí là ở nơi Giáo Hội, chứ không chỉ ở nơi người tín hữu; tuy vậy, trong sự hiệp thông Giáo hội, sự viên mãn này đến từ mọi tín hữu. Quả thực, nếu tôi yêu mến sự hiệp nhất và gắn bó với sự hiệp nhất đó, tất cả những gì mỗi người sẽ có hay sẽ làm trong lãnh vực này, thì cũng như chính tôi đã có hay đã làm. Tôi thuộc về thân thể này, là thân thể nghèo khó và săn sóc những người nghèo khó. Thánh Augustinô nói: “Bạn đừng ghen tương, mọi điều tôi có đều thuộc về bạn: tôi không muốn mình mang một tình cảm ghen tương nào, vì điều bạn có cũng thuộc về tôi[12].”

Kết quả là chúng ta phải xua đuổi mọi ác tâm và xét đoán, thay thế bằng sự quý trọng nhau và vui vẻ về những gì Thiên Chúa thực hiện qua những người khác. Những ai đang hoạt động cho công bằng xã hội và thăng tiến người nghèo (một điều thường đòi hỏi phải có những phương tiện và cơ cấu lớn) lấy làm vui vì có những anh em biết sống và loan báo Phúc Âm với lòng đơn thành và nghèo khó, và ngược lại. Thánh Tông Đồ khuyên nhủ trong một tình huống tương tự: “Chúng ta đừng xét đoán nhau nữa. […] Chúng ta hãy theo đuổi những gì đem lại bình an và những gì xây dựng cho nhau” (Rm 14,13.19).

5. Tại sao chọn sống nghèo?

Vấn đề là chúng ta phải trả lời cho câu hỏi dường như quan trọng nhất: tại sao Đức Kitô lại đưa vào thế gian lý tưởng về một sự nghèo khó tự ý? Tại sao tự ý khước từ những sự vật mà Thiên Chúa tạo ra lại giúp cho con người được vui? Sự cứu chuộc có thể đối lập với sự tạo dựng chăng?

Câu trả lời nằm ở lý do biện minh cho đề nghị của Đức Kitô. Điều đó được diễn tả rõ ràng trong bản văn: Nước Trời hay Nước Thiên Chúa. Tất cả có ý nghĩa nhờ bản tính của nước này, một nước “đã hiện diện” trong thế gian, nhưng “chưa” được thiết lập viên mãn và vĩnh viễn.

Chính vì Nước Thiên Chúa đã hiện diện trong thế gian, nơi con người và lời rao giảng của Đức Giêsu, nên đừng để nó thoát đi, nhưng nắm giữ lấy nó, vứt bỏ tất cả những gì có thể ngăn cản nó, kể cả tay và mắt nếu cần (x. Mt 18,8 tt). Nói cách khác, ngay từ bây giờ có thể bắt đầu sống như thể chúng ta đã sống cách vĩnh viễn trong Nước Trời, nơi của cải trần gian không còn giá trị nữa, nhưng là nơi Thiên Chúa sẽ là mọi sự nơi mọi người.

Đó là lý do của sự nghèo khó có thể gọi là cánh chung học hoặc có tính tiên tri, vì nó loan báo trời mới đất mới. Sự nghèo khó có tính tiên tri vì, khi không màng tới những của cải trần gian, nó công bố một của cải khác, một cách thầm lặng nhưng hữu hiệu; nó nhắc nhớ rằng thế gian này đang qua đi, nơi đây chúng ta không cư ngụ vĩnh viễn, nhưng quê hương chúng ta ở trên trời.

Lý do cánh chung học này, dựa trên sự hoàn thành bất ngờ của Nước Thiên Chúa, hoặc dựa trên sự chờ đợi Đức Kitô sắp trở lại sau khi Phục Sinh, tiếp tục tác động sau đó, tuy dưới hình thức khác hơn. Ở trần gian, người Kitô hữu không có tư cách công dân vững bền, nhưng thuộc về một thành đô khác. Chính vì vậy mà việc họ gắn bó với những của cải thời hiện tại mà họ sắp sửa phải bỏ lại, là điều nghịch lý. Từ đây lý do cánh chung học tác động dưới hình thức hy vọng những của cải muôn đời.

Những gì thuộc đặc tính đầu tiên của Nước Thiên Chúa “đã hiện diện”. Tuy vậy, mặt khác, Nước Thiên Chúa còn phải đến, đang trên đường đến “tận cùng trái đất”. Một số người hoàn toàn chú tâm chờ nó đến, không còn vướng mắc vào những liên hệ và dấn thân thuộc trần gian, có thể cản trở cho việc loan báo. Nếu Phúc Âm phải đạt “tới tận cùng trái đất” (Cv 1,8), những người đưa tin phải giống như những người chạy đua trên thao trường, nhẹ nhõm, không vướng mắc, mình trần, để “lời Chúa được phổ biến” (x. 2Th 3,1) mà không bị kìm hãm.

Lý do thứ hai này là lý do truyền giáo hoặc tông đồ của sự nghèo khó, được làm sáng tỏ đặc biệt trong diễn từ “sai đi” của Đức Giêsu: “Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bị, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo” (Lc 9,3).

6. Tính thời sự của Mối Phúc nghèo khó

Mối Phúc của những người nghèo có tính thời sự cao trong bối cảnh lịch sử của chúng ta ngày hôm nay, trong đó người ta quan tâm đến sinh thái và bảo vệ thụ tạo. Một cách sống Mối Phúc Tin Mừng, ai cũng có thể thực hiện, là biết sử dụng vật chất có điều độ, đúng mức, một lối sống giản dị cho phép hưởng của cải thuộc tạo thành, nhưng không lạm dụng và phung phí.

Chúng ta cần lời mời gọi này, đặc biệt trong những nước giầu có thuộc Bắc bán cầu. Chúng ta luôn bị cám dỗ chiếm hữu sự vật để riêng chúng ta sử dụng: quần áo, xe cộ, máy tính, các thiết bị điện tử đủ loại. Văn hóa “vứt bỏ”, dùng một lần rồi bỏ, trở thành thứ tổng hợp nền văn minh của chúng ta. Đôi khi điều đó thậm chí mang một hình thức ám ảnh.

Thánh Phanxicô Assisi thích nói với các anh em:

“Tôi đã không bao giờ ăn cắp của bố thí, cả khi xin lẫn khi dùng của đó. Tôi luôn dùng ít hơn những gì tôi xin được, để những người nghèo khác không mất phần cũng được dành cho họ. Làm ngược lại là ăn cắp[13].”

Chúng ta cũng phải nói điều tương tự về những của cải của Tạo Thành: “Chúng ta đã không đánh cắp của các thế hệ tương lai những nguồn lực dành cho họ: nước, năng lượng, gỗ chế tạo giấy…” Tất cả những gì chúng ta dùng quá mức cần thiết, trực tiếp hay gián tiếp, là chúng ta làm cho những người khác đang sống trên trái đất này hoặc những người sẽ đến sau ta không còn những cái đó để sử dụng.

Tôi thích nhắc lại lời của văn sĩ người Anh, Jerome K. Jerome, một nhà văn hài hước, nhưng trong trường hợp này thì ông nói nghiêm túc. Kinh nghiệm về một chuyến hành trình trên tầu ngược dòng sông Thames đã gợi cho ông thấy điều này trong đời sống:

“Có biết bao nhiêu người trong cuộc hành trình dọc theo cuộc đời, đã chất chứa trên tầu, khiến tầu có nguy cơ chìm, vô số những đồ vật tầm thường, nhưng lại được họ coi là cần thiết để cuộc hành trình được dễ chịu, mà thực ra đó là những đồ vật vô ích và không quan trọng. Tại sao không quan tâm làm cho chiếc tầu của cuộc đời chúng ta được nhẹ nhõm, chỉ chứa những gì thật sự cần thiết: một căn nhà nhỏ niềm nở đón tiếp, những thú vui đơn giản, một hai người bạn đúng nghĩa, có người nào đó để yêu và yêu bạn, một con mèo, một chú khuyển, một hai điếu tẩu, những gì cần để ăn mặc? Khi đó chúng ta sẽ thấy rằng như vậy con tầu tiến tới dễ dàng hơn. Chúng ta sẽ có thời giờ suy nghĩ, làm việc, nhâm nhi một chút gì đó, thoải mái ngả lưng dưới ánh mặt trời[14]”.

Chính xác đây không phải là lý tưởng Phúc Âm về sự nghèo khó vì Nước Trời, nhưng điều đó cho phép ta ít nhất thấy rằng lý tưởng này không chống lại hạnh phúc của con người, ngược lại, là một liên minh mạnh mẽ với hạnh phúc ấy.

Mối Phúc Tin Mừng về sự nghèo khó cổ võ một thái độ khác, thái độ chiêm ngắm. Chúng ta phải khám phá và quý chuộng hình thức đặc biệt của chiếm hữu là chiêm ngắm. Đó là một kiểu chiếm hữu sự vật cách sâu sắc hơn, bằng tâm hồn chứ không chỉ thuần túy bằng giác quan và thân xác.

Thánh Phaolô định nghĩa những người tông đồ và, một cách gián tiếp, các Kitô hữu, như là “những người coi như không có gì, nhưng kỳ thực có tất cả” (2Cr 6,10). Chiêm ngắm làm được phép lạ: cho phép ta có được sự vật mà không chiếm đoạt chúng, không lấy cắp chúng từ người khác. Khi một ai đó có quyền sở hữu về một vật – một công viên, một khu rừng, một bãi biển, một hồ nhỏ – vật đó là của riêng, không ai khác được sử dụng. Trong chiêm ngắm, hàng ngàn người có thể có được cái hồ hay công viên đó, mà không ăn cắp một chút hưởng thụ của ai về cái hồ hay công viên đó.

II. “PHÚC CHO ANH EM LÀ NHỮNG KẺ BÂY GIỜ ĐANG PHẢI KHÓC, VÌ ANH EM SẼ ĐƯỢC VUI CƯỜI”

Các Mối Phúc không phải là một bản thảo đã chết mà Giáo Hội phải nhận và truyền đi một cách trung thực nhất có thể; chúng là một nguồn linh hứng vĩnh cửu, vì người công bố chúng đã sống lại và hằng sống. Người ta có thể áp dụng cho chúng điều mà thi sĩ Charles Péguy đã nói về tất cà những lời của Đức Kitô:

“Đức Giêsu đã không ban những lời đã chết

Để chúng ta giữ kín trong những chiếc hộp nhỏ

Và bảo tồn chúng trong dầu hôi […]

Nhưng Ngài đã ban cho ta những lời hằng sống

Để nuôi dưỡng […]

Những lời nuôi sống

Những lời hằng sống chỉ có thể được giữ cho sống […]

Chúng ta phải nuôi dưỡng lời của Con Thiên Chúa.

Chúng ta có nhiệm vụ

Làm cho người ta nghe thấy lời đó

Làm cho lời đó vang lên đến muôn đời[15]”.

1. Tương quan mới giữa lạc thú và đau khổ

Chúng ta suy niệm về Mối Phúc thứ hai: “Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an” (Mt 5,4). Trong một số thủ bản và bản dịch mới, thứ tự giữa Mối Phúc thứ hai và Mối Phúc thứ ba – Mối Phúc của những người sầu khổ và Mối Phúc của những người hiền lành – bị đảo lộn, nhưng điều đó không ảnh hưởng gì trên ý nghĩa của chúng.

Trong Phúc Âm Luca, các Mối Phúc (bốn) được trình bầy dưới hình thức diễn từ trực tiếp, và được tăng cường bằng các mối họa “Khốn cho anh em”. Cùng một Mối Phúc được công bố như sau: “Phúc cho anh em là những người bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười. Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười, vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than” (Lc 6,21.25).

Trước hết cần lưu ý đây là Mối Phúc duy nhất dựa trên ý tưởng về một sự thay đổi. Trong những Mối Phúc khác, tương quan giữa tình hình hiện tại và tương lai dựa trên ý tưởng về sự hoàn tất: người nghèo được hạnh phúc vì Nước Trời thuộc về họ, người hiền lành được hạnh phúc vì sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. Trái lại ở đây, giữa Mối Phúc và phần thưởng của nó có sự đảo lộn, từ một tình trạng sang một tình trạng đối nghịch: từ tiếng khóc sang tiếng cười, hoặc ngược lại, từ tiếng cười sang tiếng khóc.

Sứ điệp khác thường nhất chứa đựng ngay trong cơ cấu của Mối Phúc này, theo bản văn Luca. Nó cho phép ta hiểu cuộc cách mạng mà Phúc Âm đem lại trong lãnh vực lạc thú và đau khổ. Khởi điểm – chung cho cả tư tưởng tôn giáo lẫn phàm tục – là ở chỗ nhận ra niềm vui và nỗi khổ không thể tách rời nhau trong cuộc sống. Chúng tiếp nối nhau đều đặn như sóng biển: thân sóng nối tiếp ngọn sóng và như sức hít lôi kéo người bơi lội.

Con người tìm cách tách rời lạc thú với đau khổ nhưng vô ích, cũng như đã tìm cách tách rời cặp song sinh dính liền nhau người Thái Lan mà vô vọng. Chính lạc thú vô trật tự quay lại chống họ, và biến thành đau khổ. Và lạc thú, theo cách tức khắc hoặc bi đát hoặc có một chút cả hai cùng lúc, thuộc bản chất nhất thời, mau chóng khiến người ta nhọc mệt và nôn mửa. Đó là một bài học xẩy ra hàng ngày như cơm bữa, được con người diễn tả bằng nhiều cách trong nghệ thuật và văn chương. Lucrêtiô, một thi sĩ ngoại giáo, đã viết: “Một sự cay đắng lạ lùng xuất hiện giữa mỗi lạc thú và làm chúng ta lo âu giữa cơn khoái lạc của chúng ta[16]”.

Lạc thú bất chính đánh lừa bạn, vì hứa điều không thể cho. Trước khi bạn nếm mùi lạc thú ấy, dường như nó cống hiến cho bạn vô tận và vĩnh cửu; nhưng khi bạn hưởng thụ xong, bạn chỉ còn bàn tay trắng. Nó là thông điệp bi đát của nhiều thi phú hiện đại. Như Charles Baudelaire nói, “hoa đau khổ” chúng ta vừa mới hái đã phai tàn, xông lên mùi hôi thối.

Kinh Thánh cho ta biết đã đưa ra câu giải đáp cho kịch tính này của cuộc đời con người. Và đây là lời giải thích. Ngay từ đầu, con người đã lựa chọn, một sự lựa chọn có thể làm được, vì họ có tự do và vì bản tính của họ gồm cả tinh thần lẫn vật chất, đưa họ tới chỗ hướng sự khao khát niềm vui hoàn toàn tới những sự vật hữu hình, trong khi nó đã được Thiên Chúa ban tặng, để họ có thể hưởng sự Thiện vô biên là chính Thiên Chúa.

Do con người đã chọn lạc thú chống lại lề luật Thiên Chúa, biểu thị bằng việc Ađam và Evà ăn trái cấm, Thiên Chúa đã cho phép đau khổ và sự chết xẩy ra, làm phương dược hơn là hình phạt, để con người, theo tính ích kỷ và bản năng, đừng bao giờ phá hủy mình và người lân cận. Vì vậy, ta thấy đau khổ gắn liền với lạc thú như bóng với hình.

Cuối cùng Đức Kitô đã phá vỡ dây liên kết này. Ngài “đã khước từ niềm vui dành cho mình, mà cam chịu khổ hình thập giá” (Dt 12,2). Quả thực, Đức Kitô đã làm ngược lại điều Ađam đã làm, và mọi người đang làm. Thánh Maximô Người Tuyên Tín viết:

“Cái chết của Chúa không giống với cái chết của những người khác. Cái chết của Chúa không phải là trả nợ cho lạc thú, mà đúng hơn, là một cái gì đó chống lại chính lạc thú. Vì vậy, nhờ cái chết này, số mệnh con người đã thay đổi[17]”.

Khi sống lại từ cõi chết, Ngài đã khai mào một mẫu lạc thú mới, không phải vui rồi mới khổ như là nguyên nhân của khổ, nhưng khổ rồi mới vui như là kết quả của khổ. Không chỉ niềm vui tinh thần, nhưng là mọi niềm vui trung thực, kể cả niềm vui mà người đàn ông và người đàn bà có kinh nghiệm qua việc trao thân gửi phận cho nhau, khi họ sản sinh ra sự sống, và thấy con cháu của mình lớn lên, thấy trong nghệ thuật và sáng tạo, trong vẻ đẹp, trong tình bạn, trong công việc, đi tới kết thúc một cách thành công. Niềm vui nào cũng phát xuất từ việc hoàn thành bổn phận.

Tất cả điều này, Mối Phúc đang bàn công bố cách tuyệt vời bằng diễn tiến khóc-cười đối lại với diễn tiến cười-khóc. Đây không phải là sự đảo lộn thuần túy theo thời gian. Sự khác biệt, vốn vô tận, ở chỗ, trong thứ tự do Đức Giêsu đề ra, chính niềm vui là tiếng nói cuối cùng, chứ không phải đau khổ, và điều quan trọng hơn hết, chính tiếng nói cuối cùng này kéo dài tới vĩnh cửu.

Tuy nhiên, sự xét đoán của Đức Kitô về tiếng cười và tiếng khóc không chỉ có ý nghĩa trong viễn tượng của đời sống vĩnh cửu, mà còn soi sáng ít nhất một phần đời sống hiện tại. Chúng ta phải hiểu chữ đầu tiên “Phúc thay” nghĩa là gì, muốn nói về hạnh phúc nào. Ở đây không phải là một hạnh phúc giới hạn ở những nghĩa khoan khoái thuần túy và không phải lo lắng gì, nhưng ở chỗ “thoải mái” hoàn toàn và lâu dài cho bất cứ ai. Khóc lóc và sầu khổ cũng được công bố là hạnh phúc, vì thật sự cho phép chín muồi, trưởng thành theo chiều sâu, khi hiểu biết nỗi đau khổ của người khác. Nói khác đi, có cách xử sự nhân bản.

Phúc Âm không hề lên án mọi niềm hân hoan vui vẻ; ngược lại, Phúc Âm nói tới niềm vui, ngày lễ, hầu như trong mỗi trang sách. Tiếng cười và lễ lạc đồng nghĩa với ích kỷ khi mà, thay vì thích hợp với những lúc thư giãn và nghỉ ngơi sau những lúc mệt nhọc, chúng lại được coi như một thần tượng, một điều gì đó mà người ta phải coi như một quyền lợi hoặc như một điều kiện cần thiết của cuộc sống, dù phải làm cho người khác đau khổ.

Chắc chắn người ta phải xem xét cách khác trường hợp tiếng cười và niềm vui của những diễn viên hài và những người pha trò. Mục đích của họ thực tế là làm cho người ta cười, giúp giải trí và huấn luyện người ta, làm cho mọi người có được khoảnh khắc vui vẻ. Họ là quà tặng cho mỗi người, ít nhất khi họ tự giới hạn ở bình diện nghệ thuật, và không rơi vào chỗ dung tục và châm chích gây căm ghét. Nếu họ làm cho người ta cười mà không chế nhạo.

Cuốn phim Cuộc đời tuyệt đẹp của Roberto Benigni chẳng hạn, làm hài lòng nhiều người, vì yếu tố hài ở đây phục vụ tình yêu và, trong trường hợp chính xác này, là tình yêu của một người cha dùng trò chơi và tiếng cười muốn tránh cho đứa con nhỏ của mình những điều khủng khiếp của cảnh lưu đầy và trại tập trung. Người chủ xướng ở đây là một người chịu đau khổ cố gắng đem lại niềm vui, và theo mức độ của anh, dù nhà đạo diễn có ý thức điều đó hay không, anh đi vào trong phạm vi của Mối Phúc Tin mừng. Mối Phúc của Đức Kitô không chỉ hiểu về tương lai: “Phúc thay ai bây giờ sầu khổ, vì một ngày kia sẽ được Thiên Chúa ủi an”, nhưng còn hiểu cả về hiện tại: “Phúc thay ai chấp nhận phải đau buồn, để những người chung quanh họ có thể được ủi an.”

2. “Này Thiên Chúa ngươi đâu?”

Giờ đây chúng ta thử tìm hiểu xem ai thực sự là những người sầu khổ và ai là những người than khóc được Đức Kitô công bố là hạnh phúc. Các nhà chú giải hầu như nhất trí cho rằng những người này không phải là những người sầu khổ chỉ theo nghĩa khách quan và xã hội học, nghĩa là những người được Đức Giêsu công bố là hạnh phúc chỉ vì họ sầu khổ hay khóc lóc. Yếu tố chủ quan, tức lý do khiến người ta khóc lóc, có tính chất quyết định.

Đâu là lý do này? Các Giáo Phụ và các tác giả tu đức ngày xưa nhấn mạnh lý do sám hối, nước mắt của hối nhân sám hối về tội mình. Các tác giả hiện nay lại đề nghị một lý do hiện sinh: nước mắt của những người cảm thấy mình là lữ khách ở trần gian, xa cách quê hương, của những người “đau khổ vì thấy sự dữ đang thống trị thế giới[18]”. Một sự than khóc mang tính vũ trụ, nếu có thể nói được như thế, giống như Phaolô nói về sự rên siết của thụ tạo và con người đang trông chờ ơn cứu chuộc hoàn hảo (x. Rm 8,19-23), hoặc giống như kiểu nói của thi sĩ Virgiliô sunt lacrimae rerum, “đó là những giọt nước mắt của sự vật[19]”.

Theo tôi, không nên giới hạn vào hai lý do này. Con đường bảo đảm nhất để thấy thứ khóc lóc và sầu khổ nào được Đức Kitô công bố là hạnh phúc, chính là tìm hiểu xem tại sao người ta khóc trong Kinh Thánh và tại sao Ngài khóc trong Phúc Âm. Chúng ta thấy có thứ khóc lóc ăn năn như Phêrô sau khi phản bội Thầy; có thứ “khóc với người khóc” (Rm 12,15), tức là khóc lóc cảm thương với nỗi buồn của người khác, như Đức Giêsu khóc với bà góa thành Naim, với các chị của Ladarô; có thứ khóc lóc của những kẻ lưu đầy trông về cố hương, như những người Do Thái bên bờ sông Babylon. Và còn biết bao nhiêu thứ khóc lóc khác…

Tôi muốn nhấn mạnh hai lý do khiến người trong Kinh Thánh khóc và khiến Đức Giêsu khóc. Những lý do này xem ra đặc biệt quan trọng để suy niệm trong thời điểm lịch sử chúng ta đang sống.

Trong Thánh vịnh 41/42, chúng ta đọc thấy những lời này:

“Châu lệ là cơm bánh đêm ngày,

khi thiên hạ thường ngày cứ hỏi

‘Này Thiên Chúa người đâu?’

Xương cốt con gẫy rời từng khúc,

bởi đối phương lăng nhục thần này,

khi thiên hạ thường ngày cứ hỏi

‘Này Thiên Chúa ngươi đâu?’”

Người tín hữu chưa từng bao giờ có nhiều lý do để buồn phiền như hôm nay, vì có nhiều người chung quanh kiêu căng chối bỏ Thiên Chúa. Sau thời vô thần mácxít đến thời tương đối yên lặng, bây giờ chúng ta đang chứng kiến sự trở lại lại mạnh mẽ của một chủ nghĩa vô thần chiến đấu và gây hấn, nói chung mang tính khoa học. Tựa đề của một số sách mới đây nói lên tất cả: Khảo luận về khoa vô thần, Ảo tưởng về Thiên Chúa, Ngày tàn của đức tin, Tạo dựng không có Thiên Chúa, Một đạo đức học không Thiên Chúa, Thiên Chúa không vĩ đại, Tôn giáo đầu độc mọi thứ…

Ở một trong các sách trên đây, chúng ta đọc được những lời tuyên bố như sau:

“Các xã hội loài người đã phát triển nhiều phương tiện chuẩn mực để có được kiến thức, những kiến thức này thường được chia sẻ, và qua chúng người ta có thể xác minh một điều gì đó. Những người khẳng định sự hiện hữu của một thực thể mà không thể biết được thông qua những dụng cụ đó, phải đảm nhận việc dẫn chứng. Vì vậy, theo tôi, chủ trương Thiên Chúa không hiện hữu xem ra hợp pháp, cho đến khi chứng minh ngược lại[20].”

Chúng ta hẳn có thể dùng những cách biện luận tương tự để chứng minh rằng tình yêu cũng không hiện hữu, vì nó không thể được các công cụ khoa học xác minh. Chứng cớ Thiên Chúa hiện hữu là ở trong đời sống, chứ không ở trong sách vở hay phòng thí nghiệm sinh học; trước hết là trong cuộc đời của Đức Kitô, rồi trong cuộc đời của các thánh và vô số chứng nhân đức tin. Người ta cũng thấy sự hiện hữu ấy trong chứng cớ gây nhiều tranh cãi về các dấu chỉ và phép lạ do chính Đức Giêsu thực hiện, như để minh chứng cho chân lý Ngài công bố. Như Lessing nhận xét, đúng là các phép lạ có ích cho những ai chứng kiến, chứ không cho những ai được nghe kể lại, nhưng những phép lạ vẫn còn xẩy ra ngày hôm nay, trước mắt chúng ta. Không nên tiên thiên cho rằng chúng không thể xẩy ra, mà không chịu khó xem xét các chứng cớ về chúng, cũng không nên bác bỏ toàn bộ chỉ với lý do là đã có thể chứng minh một số những phép lạ đó là giả.

Lý do buồn phiền của người tín hữu, cũng như của vịnh gia, là thấy mình bất lực trước thách đố đặt ra cho mình: “Này Thiên Chúa ngươi đâu? Bằng thái độ yên lặng nhiệm mầu, Thiên Chúa giữ thinh lặng và Người kêu gọi người tín hữu chia sẻ sự yếu đuối và thất bại cùa Người, hứa cho họ chiến thắng chỉ với điều kiện này: “Cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1Cr 1,25).

Để có những giọt nước mắt chân thành và có kết quả, người tín hữu phải khóc không chỉ vì các người không tin, mà còn khóc cho các người không tin, với lòng trắc ẩn trung thực, cho dù bị họ từ chối hay nhạo báng. Triết gia Kierkegaard đã viết:

“Người ta nói nhiều về cảnh nguy khốn và lầm than của con người. Tôi cố gắng tìm hiểu những cảnh ấy, và tôi thấy sát những khía cạnh khác nhau của nhửng cảnh ấy. Người ta nói nhiều về những cuộc đời bị lãng phí, nhưng chỉ lãng phí cuộc đời của người đã sống qua những ngày tháng để mình bị những niềm vui và nỗi buồn phỉnh phờ, đến độ không bao giờ có một ý thức vĩnh cửu và mang tính quyết định về chính mình như một tinh thần, như một “cái tôi” hoặc, nói cách khác, không bao giờ nhận thấy hay có cảm tưởng sâu sắc là có một Thiên Chúa và “chính mình”, con người của mình, cái tôi của mình được tạo dựng là cho Thiên Chúa […] Và dường như tôi có thể thương tiếc một cõi đời đời trước sự khốn cùng này[21]!”

Mẹ Têrêxa Calcutta, người đã biết hết hoặc hầu như tất cả sự nghèo khó và khốn cùng, chỉ lặp đi lặp lại rằng sự nghèo khó kinh khủng nhất là sự nghèo khó của người nghĩ rằng có thể làm mà không cần Thiên Chúa.

3. “Chớ gì các linh mục, những thừa tác viên của Chúa, hãy khóc lên!”

Có những giọt nước mắt khác trong Kinh Thánh khiến chúng ta phải suy nghĩ, không phải nước mắt khóc cho người khác, nhưng khóc cho chính chúng ta. Các tiên tri nói về chúng. Êdêkien kể lại một thị kiến mà có lần ông đã thấy. Tiếng nói quyền năng của Thiên Chúa mời gọi một nhân vật huyền bí “mặc áo vải gai, đeo tráp ký lục ở ngang hông: “Hãy rảo khắp thành, khắp Giêrusalem. Hãy ghi dấu chữ thập trên trán những người đang rên siết khóc than về mọi điều ghê tởm đang xẩy ra trong khắp thành” (Êd 9,4).

Trong thời gian qua, Giáo Hội đã khóc than cho những tội lỗi ghê tởm ngay giữa lòng Giáo Hội mà một số các thừa tác viên và mục tử của mình đã phạm. Giáo Hội đã trả giá đắt cho những trường hơp ấu dâm của hàng giáo sĩ, đã đưa ra những biện pháp và những quy tắc chặt chẽ, để ngăn chặn những lạm dụng như vậy không xẩy ra nữa: khóc lóc trước mặt Thiên Chúa, đau buồn như Thiên Chúa đau buồn vì tội phạm đến Thân Thể Đức Kitô, và gương xấu gây ra cho “những người bé mọn nhất trong các anh em mình”. Đây là điều kiện để từ điều xấu này có thể thực sự phát sinh một điều tốt, và dân Chúa hòa giải với Thiên Chúa và với các linh mục của Người.

“Hãy rúc tù và tại Sion, ra lệnh giữ chay thánh, công bố mở cuộc họp long trọng…Giữa tiền đình và tế đàn, các tư tế phụng sự Đức Chúa hãy than khóc và nói rằng: Lậy Đức Chúa, xin dủ lòng thương xót dân Ngài. Xin đừng để gia nghiệp cùa Ngài phải nhục nhã và nên trò cười cho dân ngoại” (Ge 2,15-17).

Lời của tiên tri Gioen là một lời mời gọi mỗi người chúng ta. Chúng ta lại không làm như ông hôm nay sao: một ngày ăn chay và sám hối, ít nhất ở cấp địa phương hay quốc gia, nơi mà vấn đề trở thành nghiêm trọng nhất, để công khai bày tỏ lòng sám hối trước Thiên Chúa và liên đới với các nạn nhân?

Tôi tìm thấy sự can đảm của tôi trong những lời của Đức Giáo hoàng Bênêđitô XVI nói với hàng Giám mục của một quốc gia công giáo trong lần viếng ad limina:

“Những vết thương do những hành vi ấy gây ra sâu lắm. Công việc khôi phục sự tin tưởng là cấp bách, một khi sự tin tưởng này đã bị tổn thương. Theo cách này, Giáo Hội ở Ai Len sẽ được củng cố và sẽ ngày càng có khả năng làm chứng cho quyền năng cứu độ của thập giá Đức Kitô[22].”

Tuy vậy, chúng ta không thể không đem lại hy vọng cho những anh em bất hạnh đã gây ra tội ác. Liên hệ đến trường hợp loạn luân ở giáo đoàn Corintô, thánh Tông Đồ tuyên bố: “Chúng ta phải nộp con người đó cho Satan, để phần xác nó bị hủy diệt, còn phần hồn được cứu thoát trong Ngày của Chúa” (1Cr 5,5). Việc cứu rỗi tội nhân, chứ không phải hình phạt dành cho họ, đấy là điều thánh Tông Đồ quan tâm.

Những linh mục này đã bị tước bỏ mọi sự, thừa tác vụ, danh dự, tự do, và không ai biết trách nhiệm luân lý như thế nào trong những trường hợp của các ngài. Các ngài trở thành những người rốt hết, những người bị loại bỏ. Nếu vì đó và được ân sủng tác động, một ngày nào đó các ngài đau buồn về tội ác mình gây ra, nếu các ngài kết hợp sự than khóc của mình với sự than khóc của cả Giáo hội, thì khi ấy, Mối Phúc của những người sầu khổ và than khóc, trong trường hợp ấy, trở thành Mối Phúc của các ngài. Các ngài hẳn có thể gần gũi Đức Kitô, bạn của những người rốt hết, hơn biết bao nhiêu người khác, những người tưởng mình được nhiều người kính trọng và có lẽ, giống như người Pharisiêu, sẵn sàng phán đoán những người làm điều lầm lỗi. Dĩ nhiên, người ta vẫn phải làm hết sức có thể, cộng tác ở mọi cấp với công lý của con người, để những gương xấu này không được lặp lại, và tìm cách giúp đỡ về phương diện thiêng liêng cả những nạn nhân bị lạm dụng nữa.

4. Những giọt lệ đẹp đẽ nhất

Cho tới lúc này chúng ta đã gợi ra một vài lý do khiến người Kitô hữu hôm nay đau buồn và khóc lóc, nhưng tôi không thể kết thúc bài suy niệm này mà không lưu ý đến những giọt nước mắt thuộc một loại khác. Người ta có thể khóc vì đau buồn, nhưng cũng có thể khóc vì cảm động và vui mừng. Những giọt nước mắt đẹp nhất là những giọt nước mắt trào ra khi mà, được Chúa Thánh Thần soi sáng, “chúng ta nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy” (Tv 34,9).

Trong tình trạng ân sủng như vậy, chúng ta ngạc nhiên khi thấy thế giới và chính chúng ta không quỳ gối, và không khóc vì ngạc nhiên và cảm động. Chính những giọt lệ loại này trào ra trên đôi mắt của Augustinô, khi ngài viết:

“Lạy Cha nhân từ, cha yêu thương chúng con dường nào, đến nỗi không chỉ chia sẻ Con Một của cha, mà còn nộp người Con ấy vì chúng con hết thảy. Cha yêu chúng con biết mấy[23].”

Pascal cũng đã khóc như vậy vào đêm ông nhận được mạc khải từ Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp, Đấng tự mạc khải mình qua Phúc Âm. Ông viết trên một mảnh giấy nhỏ (được tìm thấy đính vào trong áo vét, sau khi ông qua đời): “Vui quá, vui quá, những giọt nước mắt vui mừng!”. Tôi nghĩ rằng những giọt nước mắt mà người đàn bà tội lỗi đổ ra để rửa chân cho Đức Giêsu không chỉ là những giọt lệ thống hối, mà còn là những giọt nước mắt tạ ơn và vui mừng.

Nếu ở trên trời người ta có thể khóc, thì khi ấy thiên đàng đầy những giọt nước mắt như thế. Ở Istambul, xưa là thành phố Constantinôpôli, là nơi mà thánh Simêon, Nhà Thần học Mới, đã sống khoảng năm 1000. Người ta gọi ngài là vị thánh hay khóc, Ngài là gương mẫu sáng chói nhất trong lịch sử tu đức Kitô giáo về những giọt lệ thống hối, đổi thành những giọt nước mắt ngạc nhiên và thinh lặng. Trong một tác phẩm của mình, ngài viết: “Tôi đã khóc mà vui khôn tả[24].” Giải thích dài dòng Mối Phúc của những người than khóc, ngài nói:

“Phúc thay những người luôn khóc lóc cay đắng về tội mình, vì ánh sáng sẽ giữ họ và sẽ biến đổi những giọt nước mắt cay đắng thành ngọt ngào[25].”

Một ngày kia, lúc đang khóc, thánh Simêon cảm nghiệm được niềm vui lớn lao đến nỗi ngài viết :

“Có gì lớn lao và đẹp đẽ hơn điều đó? Cứ để yên như vậy là đủ cho con, ngay cả sau khi con chết!” Tiếng Chúa đáp lại: “Con thực bủn xỉn khi hài lòng như vậy. Niềm vui của con hôm nay, so với niềm vui sẽ đến, giống như bầu trời vẽ trên giấy, so với bầu trời thật sự [26]”.

III. “PHÚC THAY AI HIỀN LÀNH, VÌ HỌ SẼ ĐƯỢC ĐẤT HỨA LÀM GIA NGHIỆP”

Để biết xem ai là những người hiền lành được Đức Giêsu công bố là có phúc, thiết tưởng nên duyệt qua những hạn từ khác nhau được sử dụng trong các bản dịch hiện nay để dịch từ “hiền lành” (praeis). Trong tiếng Ý, hai hạn từ là : miti và mansueti, hạn từ sau cũng được sử dụng trong các bản dịch tiếng Tây Ban Nha : los mansos, “những người ngoan ngoãn”.

Trong tiếng Pháp, từ này được dịch là “hiền lành” (doux), tức là những người có nhân đức “hiền lành” (la douceur). Trong tiếng Đức, người ta thấy có nhiều cách dịch. Martinô Luthêrô dịch từ này là Sanftmutigen, có nghĩa là “hiền lành” ; trong bản dịch Kinh Thánh đại kết bằng tiếng Đức, bản Eineits Bibel hay “Kinh Thánh đại kết”, những người hiền lành là “những người không sử dụng bạo lực”, những người bất bạo động. Một vài tác giả nhấn mạnh chiều kích khách quan và xã hội học khi dịch praeis là Machtlosen, những người “không được bảo vệ”, những người “không có quyền hành”. Tiếng Anh thường dịch praeis là gentle, làm cho các Mối Phúc có một sắc thái giữa tử tế và lịch thiệp.

Mỗi bản dịch trên làm nổi bật một thành tố thực sự của Mối Phúc, cho dù chỉ một phần. Để có một ý tưởng về sự phong phú ban đầu của hạn từ Phúc âm, chúng ta phải giữ chúng lại chung với nhau, không tách riêng hạn từ nào. Hai cách kết hợp không thay đổi, trong Kinh Thánh cũng như trong khuyến thiện Kitô giáo cổ thời, giúp ta hiểu “ý nghĩa đầy đủ” của từ hiền lành: một cách đưa hai từ hiền lành và khiêm nhường lại gần nhau, một cách đưa từ hiền lành lại gần với từ nhẫn nại; một cách nhấn mạnh thái độ nội tâm từ đó phát xuất ra hiền lành, một cách gợi ra những cách xử thế nên có với người lân cận, nghĩa là nhã nhặn, dịu hiền, tôn trọng, tử tế… cũng chính là những nét mà thánh Tông Đồ nhấn mạnh khi ngài nói về đức ái (1Cr 13,4-5).

1. Hai chìa khóa giúp đọc các Mối Phúc

Đức Giêsu công bố: “Phúc thay ai hiền lành” và ở một đoạn khác cũng trong Phúc Âm Matthêu, Ngài nói: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (11,29). Từ đó ta có thể thấy các Mối Phúc không chỉ là một chương trình đạo đức tốt đẹp, mà vị Thầy đã vạch ra tỉ mỉ cho các môn đệ, nhưng còn là một chân dung tự họa của Ngài. Ngài chính là con người nghèo thực sự, hiền lành, có tâm hồn trong sạch, bị bách hại vì lẽ công chính. Thánh Augustinô kêu lên: “Chúng ta đã tìm thấy một người nghèo thực sự. Đó là người nghèo mà chúng ta thấy mọi người nghèo thực sự là chi thể[27].”

Điều này giúp chúng ta có cơ hội cho thấy hai cách giải thích căn bản về các Mối Phúc Tin mừng trong suốt dòng lịch sử: cách giải thích luân lý và cách giải thích Kitô học. Cách giải thích luân lý, chẳng hạn của thánh Tôma Aquinô khi bàn về các Mối Phúc trong phần luân lý của Tổng luận, trong ngữ cảnh các nhân đức và ân huệ[28]. Theo cũng cách giải thích luân lý này, cùng với các Mối Phúc, Đức Giêsu phác họa cho các môn đệ một lý tưởng hoàn thiện vượt lên trên lề luật. Những đòi hỏi của nó đôi khi xem ra không thể thực hiện. Chính vì vậy chúng không được ban như những “lệnh truyền”, nhưng như các “Mối Phúc”. Theo cách phân biệt của kinh viện giữa lệnh truyền và lời khuyên Phúc âm, chúng thuộc phạm trù lời khuyên hơn.

Luthêrô cũng theo cách giải thích luân lý này, nhưng bằng cách đảo ngược nó, nếu có thể nói được như vậy. Những đòi hỏi khó khăn của Đức Giêsu chỉ là để cho con người thấy mình tội lỗi, không thể làm điều lành, như vậy thúc giục con người chỉ phó thác vào ân sủng của Đức Kitô. Chúng có giá trị “tố cáo”, và giống như, theo Phaolô, tất cả luật cũ. Chúng không chỉ ra điều chúng ta phải làm, nhưng đúng hơn, điều một mình chúng ta không thể làm. Ngay cả đối với thánh Tôma, các Mối Phúc, cũng như các lệnh truyền luân lý của Phúc Âm, sẽ là “văn tự giết chết”, nếu không thêm vào đó “ân sủng của đức tin chữa lành[29]”; tuy nhiên, không vì vậy mà ngài coi mục tiêu của chúng chỉ là “mạc khải về tội lỗi”.

Ngược lại, chìa khóa giúp đọc theo hướng Kitô học là đọc các Mối Phúc không như “tấm gương tội lỗi” của con người, nhưng như những khẳng định về Đức Kitô và về con người mới, được đúc theo khuôn của Ngài. Không phải theo cách tiêu cực, nhưng theo cách tích cực. Chính theo nghĩa này mà, như tôi đã nói lúc đầu, các Mối Phúc căn bản là bức chân dung tự họa của Đức Giêsu.

Như thường lệ, vấn đề không phải là đối lập hai cách xem xét này về các Mối Phúc, nhưng giữ cho chúng liên kết với nhau. Chắc chắn chúng có một giá trị luân lý, và trong chừng mực là Mối Phúc, chúng đòi con người chấp nhận và cộng tác, tuy vậy chúng có nền tảng Kitô học, cho ta biết Đức Giêsu là ai. Chính ở điểm này, ở bổn phận bắt chước Đức Kitô, mà phát sinh giá trị luân lý của chúng. Trong cả hai trường hợp, chúng ta nói về một cách đọc các Mối Phúc theo hướng Kitô học, miễn là coi Đức Kitô như một “hồng ân nhận được nhờ đức tin”, và đồng thời như một “kiểu mẫu để bắt chước nhờ các việc làm”.

Tôi nghĩ chính đó là hạn chế của ông Gandhi, khi ông tiếp cận “Bài giảng trên núi”, tuy rất thán phục Bài giảng này. Theo ông, diễn từ này hẳn có thể không dính dáng gì tới con người lịch sử của Đức Kitô. Ông nói :

“Nếu có ai chứng minh được rằng con người có tên là Giêsu chưa từng sống bao giờ, và tất cả những gì chúng ta đọc trong Phúc âm chỉ là do tác giả tưởng tượng, thì điều đó cũng không quan trọng. Trước mắt tôi, Bài giảng trên núi vẫn mãi mãi là một chân lý[30].”

Ngược lại chính con người và cuộc đời của Đức Kitô mới làm cho các Mối Phúc và toàn bộ “Bài giảng trên núi” trở thành một cái gì đó hơn là một ảo tưởng luân lý sáng ngời, vì được thực hiện trong lịch sử, trong đó mỗi người có thể múc lấy sức mạnh, để đạt tới sự hiệp thông thần bí liên kết mình với con người Đấng Cứu Thế. Không chỉ thuộc trật tự bổn phận mà thôi, nhưng còn thuộc trật tự ân sủng nữa.

2. Đức Giêsu, con người hiền lành

Nếu các Mối Phúc là một chân dung tự họa của Đức Giêsu, thì việc đầu tiên phải làm khi phải bình giải một Mối Phúc, là xem Ngài đã sống Mối Phúc ấy như thế nào. Các sách Phúc Âm, từ đầu tới cuối, đều chứng minh sự hiền lành của Đức Kitô, dưới hai khía cạnh khiêm nhường và nhẫn nại. Như chúng ta đã nhắc lại, chính Đức Giêsu cũng coi mình như một khuôn mẫu hiền lành. Matthêu gán cho Ngài những lời tiên tri Isaia tuyên sấm về người Tôi Trung của Thiên Chúa: “Cây lau bị dập, Ngài không đành bẻ gẫy, tim đèn leo lét, chẳng nỡ tắt đi” (x. Mt 12,20). Hình ảnh Ngài cỡi lừa vào thành Giêrusalem được coi như gương mẫu của một đức vua “hiền hậu”, ghê tởm mọi ý tưởng bạo lực và chiến tranh.

Chính trong cuộc Khổ Nạn mà Đức Kitô cho thấy bằng chứng rõ nhất về sự hiền lành này: không một chút giận dữ, không một lời đe dọa. “Bị nguyền rủa, Người không nguyền rủa lại, chịu đau khổ mà chẳng ngăm đe” (1 Pr 2,23). Tư cách này của Chúa ghi đậm trong ký ức của các môn đệ Ngài, đến nỗi thánh Phaolô, khi muốn van nài người Corintô về một điều gì đó thân thương và thiêng thánh, đã viết cho họ: “Tôi xin dựa vào lòng nhân từ (prautes) và khoan dung (épieikeia) của Đức Kitô mà khuyên nhủ anh em” (2 Cr 10,1)

Tuy vậy, Đức Giêsu đã làm hơn nhiều, chứ không chỉ để lại cho ta gương mẫu về sự hiền lành và nhẫn nại đến độ anh hùng; Ngài còn biến hiền lành và bất bạo động thành dấu chỉ nói lên sự cao cả đích thực. Cao cả không ở chỗ đưa mình lên trên người khác, trên đám đông, nhưng hạ mình xuống để phục vụ và đưa người ta lên. Theo thánh Augustinô, trên Thánh giá Đức Giêsu cho thấy sự chiến thắng đích thực không ở chỗ biến người khác thành nạn nhân, nhưng biến mình thành nạn nhân (tế vật), victor quia victima[31].

Như ta biết, triết gia F. Nietzsche không chia sẻ nhãn quan này với chúng ta. Theo ông, đó là thứ “đạo đức của người nô lệ”, chấp nhận thế yếu của mình trước kẻ mạnh hơn. Khi dạy người ta sống khiêm nhường, hiền lành, bổn phận trở nên như con trẻ, giơ má kia cho người ta đánh, Kitô giáo du nhập vào giữa lòng nhân loại một dạng ung thư, phá vỡ và, do đó, hủy hoại đà sống và tất cả cuộc sống của con người.

Từ ít lâu nay, người ta ghi nhận một khuynh hướng muốn bác bỏ những lời tố cáo Nietzsche, muốn phục hồi uy tín cho ông, thậm chí muốn coi ông là một Kitô hữu. Người ta cho là ông không muốn chống Đức Kitô, mà chỉ chống các Kitô hữu. Những người này có thời kỳ đã rao giảng sự từ bỏ như một mục đích, khinh chê cuộc sống, chống lại thân xác… Mọi người hiểu lầm tư tưởng đích thực của Nietzsche, bắt đầu từ Hitler. Thực ra, ông đã có thể là một tiên tri của thời đại mới, đi tiên phong cho thời hậu hiện đại.

Chỉ có một tiếng nói, nếu có thể nói như thế, đã bác lại khuynh hướng này, đó là tiếng nói của triết gia Pháp René Girard. Theo ông, tất cả những cố gắng đó tiên vàn làm hại cho chính Nietzsche. Với một đầu óc sáng suốt hiếm có vào thời ấy, Nietzsche đã thấy rõ trọng tâm thực sự của vấn đề, đó là : cái thế buộc phải lựa chọn giữa ngoại giáo và Kitô giáo. Ngoại giáo ca ngợi sự hy sinh người yếu vì lợi ích của người mạnh và vì sự thăng tiến của đời sống con người, trong khi đó Kitô giáo lại ca ngợi sự hy sinh người mạnh vì lợi ích của người yếu. Không khó để có thể thấy mối liên hệ khách quan giữa đề nghị của Nietzsche với kế hoạch của Hitler, nhằm xóa sổ hết một nhóm người, để giúp cho văn minh được tiến triển, chủng tộc được thuần khiết. Thế nên không chỉ Kitô giáo, mà cả Đức Kitô, là mục tiêu tấn công của Nietzsche. Ông đã từng nói trong một mảnh di cảo: “Dionysos chống lại kẻ bị đóng đinh, đây thật là một sự đối kháng[32].”

Riné Girard chứng minh rằng công trạng lớn nhất của xã hội hiện nay, tức quan tâm tới các nạn nhân, đứng về phía người yếu thế và bị áp bức, bảo vệ sự sống bị đe dọa, công ấy thực ra là sản phẩm trực tiếp của cuộc cách mạng Phúc Âm, là sản phẩm mà, ngày nay, trong một trò chơi nghịch lý của những cạnh tranh bắt chước, các phong trào khác đòi lại như một cuộc chinh phục cá nhân, đối lập với Kitô giáo[33].

Thực sai lầm khi cho rằng Phúc Âm cản trở ước muốn làm những việc lớn và làm đầu. Đức Giêsu nói: “Ai muốn làm người đứng đầu thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9,35). Vậy muốn làm đầu là chuyện hợp pháp, thậm chí được khuyến khích nữa. Chỉ con đường đưa đến chỗ làm đầu phải thay đổi: không đưa mình lên trên người khác, đè bẹp họ nếu họ là vật cản trên đường, nhưng là hạ mình để đưa họ lên và lên cùng với họ.

3. Hiền lành và khoan dung

Mối Phúc của người hiền lành đã trở thành quan trọng đặc biệt trong những cuộc tranh luận về tôn giáo và bạo lực, nhất là sau ngày 11 tháng 9 năm 2001. Tiên vàn Mối Phúc nhắc cho người Kitô hữu chúng ta nhớ rằng, trong Phúc Âm, không có chỗ cho bất cứ hồ nghi nào. Không hề có những lời khuyên bất bạo động xen lẫn với những lời khuyên ngược lại. Có thể người Kitô hữu, vào một thời kỳ nào đó, đã xa rời truyền thống, nhưng nguồn mạch thì vẫn trong sáng và Giáo Hội lại có thể dựa vào đó, vào bất cứ thời nào, an tâm chỉ tìm thấy trong đó chân lý và sự thánh thiện.

Phúc Âm nói: “Ai không tin sẽ bị kết án” (Mc 16,16). Nhưng kết án là kết án ở trên trời, không phải ở dưới đất, do Thiên Chúa, chứ không do con người. Đức Giêsu nói: “Khi người ta bách hại anh em trong thành này thì hãy trốn sang thành khác” (Mt 10,23), chứ Ngài không dạy: “Hãy phá hủy thành đó”. Có một hôm hai trong số các môn đệ là Giacôbê và Gioan không được một làng Samari tiếp đón. Họ hỏi Chúa: “Thưa Thày, Thày có muốn cho chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu hủy chúng nó không?” Nhưng Đức Giêsu “quay lại quở mắng các ông”. Một lời quở mắng mà nội dung được nhiều thủ bản thuật lại: “Anh em không biết anh em thuộc loại thần khí nào, vì Con Người không đến để làm cho người ta mất mạng, nhưng là để cứu mạng” (x. Lc 9, 53-55).

Lệnh truyền nổi tiếng compelle intrare, “Ép người ta vào” (Lc 14,23) mà thánh Augustinô buộc phải miễn cưỡng dùng lại[34], để biện minh cho việc ngài chấp thuận những luật của hoàng đế chống lại người phái Đonatô[35], và sau đó sẽ được sử dụng để biện minh cho biện pháp chính trị cưỡng chế các người lạc giáo, lệnh truyền ấy rõ ràng là do người ta giải thích bản văn Phúc Âm một cách gượng gạo. Chính giải thích này là kết quả của việc đọc Kinh Thánh theo nghĩa đen.

Đức Giêsu đặt lệnh truyền này trên môi miệng một người, sau khi làm tiệc lớn và thấy những khách được mời xin kiếu, đã sai đầy tớ ra các đường làng đường xóm “ép các người nghèo khổ, tàn tật, đui mù, què quặt vào nhà mình”. Rõ ràng trong loại ngữ cảnh này, ép người nào không có nghĩa gì khác hơn là nài nỉ. Những người nghèo khổ, què quặt, cũng như mọi người bất hạnh, hẳn cảm thấy ngại ngùng đi dự tiệc trong một tình trạng đáng thương. Cho nên chủ nhà bảo các đầy tớ cứ nói với họ đừng ngại, đừng sợ vào nhà. Trong những hoàn cảnh này, biết bao lần trong đời chúng ta cũng đã nói: “Ông ấy ép qua nên tôi phải nhận”, khi biết rằng sự nài nỉ trong trường hợp này là dấu chỉ tử tế chứ không phải cưỡng bức.

Một cuốn sách viết theo kiểu điều tra về Đức Giêsu, được nhiều người nói tới trong thời gian qua tại Ý, gán cho Ngài câu này: “Còn bọn thù địch của ta kia, những người không muốn ta làm vua cai trị chúng, thì hãy dẫn chúng lại đây và giết chết trước mặt ta” (Lc 19,27), và từ đó suy ra là “những người chủ trương thánh chiến dựa vào những câu đại loại như vậy[36].” Phải nói rõ: Luca không gán những lời này cho Đức Giêsu, nhưng cho nhà vua trong dụ ngôn. Người ta biết rằng không thể chuyển cả một khối mọi chi tiết của trình thuật từ dụ ngôn sang thực tế. Trong mọi trường hợp những chi tiết này phải được chuyển từ bình diện vất chất sang bình diện thiêng liêng. Ý nghĩa ẩn dụ của câu trên muốn nói rằng đón nhận hay chối từ Đức Giêsu đều gây ra hiệu quả: đón nhận thì sống, không đón nhận thì chết, nhưng đây là sống hay chết về phương diện thiêng liêng, không phải về thể lý. Thánh chiến không mắc mớ gì ở đây hết.

4. Với lòng hiền hòa và kính trọng

Chúng ta hãy để sang một bên những xem xét thuộc loại hộ giáo, và xem mối phúc này soi sáng đời sống Kitô hữu của chúng ta như thế nào. Trong thư thứ nhất của mình, thánh Phêrô đưa Mối Phúc ấy áp dụng vào mục vụ, trong cuộc đối thoại với thế giới bên ngoài:

“Hãy tôn Đức Kitô làm Chúa ngự trong lòng anh em. Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em. Nhưng phải trả lời cách hiền hòa (prautes) và có lòng kính trọng” (1 Pr 3,15-16).

Ngay từ thời Giáo hội sơ khai, đã có hai loại hộ giáo, một loại theo kiểu của Tertullianô, một loại theo kiểu của Giustinô, loại trước lấy thắng làm cốt, loại sau nhằm thu phục. Tertullianô (hoặc một trong các môn đệ của ông) viết cuốn Chống người Do thái (Adversus Iudaeos), còn Giustinô viết cuốn Đối thoại với Tryphon người Do thái. Cả hai loại hộ giáo đó vẫn tiếp tục trong văn chương Kitô giáo (Giovanni Papini chắc chắn gần với Tertullianô hơn là với Giustinô), nhưng ngày nay chắc chắn chúng ta thích loại nhằm thu phục hơn.

Thông điệp Deus Caritas est của Đức Bênêđitô XVI là một mẫu gương sáng ngời khi trình bầy những giá trị Kitô giáo theo cách kính trọng và xây dựng, đem lại lý do cho niềm hy vọng Kitô giáo “cách hiền hòa và có lòng kính trọng”.

Thánh tử đạo Ignatiô Antiokia đã gợi ra cho các Kitô hữu thời ngài một thái độ vẫn còn đậm chất thời sự này, trước thế giới bên ngoài:

“Trước thái độ giận dữ của họ, anh em hãy tỏ ra hiền lành ; trước thói khoe khoang của họ, hãy tỏ ra khiêm tốn[37].”

Lời hứa gắn liền với Mối Phúc của người hiền lành (“sẽ được đất làm gia nghiệp”) được thực hiện theo nhiều cấp độ khác nhau, và cuối cùng là Đất Hứa vĩnh viễn là sự sống đời đời. Một trong những cấp độ ấy là cấp độ con người: đất biểu thị tâm hồn con người. Người hiền lành làm cho người ta tin tưởng, lôi cuốn người khác. Thánh Phanxicô Salêsiô, một vị thánh nổi tiếng hiền hòa, đã nói: “Các bạn hãy sống hiền hòa ngần nào có thể, và hãy nhớ rằng chỉ một giọt mật thôi thì bẫy được nhiều ruồi dễ hơn là một thùng dấm.”

5. “Hãy học với tôi vì tôi hiền lành”

Người ta có thể nhấn mạnh nhiều đến những áp dụng mục vụ của Mối Phúc này, nhưng chúng ta hãy chuyển sang một áp dụng có tính cá nhân hơn. Đức Giêsu nói: Anh em hãy học với tôi vì tôi có lòng hiền hậu” (Mt 11,29). Người ta có thể bắt bẻ: chính Đức Giêsu không phải lúc nào cũng hiền hậu. Chẳng hạn Ngài dạy đừng chống lại người ác, và: “Nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa” (Mt 5,39) ; tuy vậy, khi đứng trước Thượng Hội đồng Do thái và khi có tên lính vả mặt Ngài, Ngài đã không chìa má kia mà lại nói: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào, còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” (Ga 18,23).

Điều đó có nghĩa là không được hiểu “Bài giảng trên núi” hoàn toàn theo mặt chữ. Đức Giêsu sử dụng những kiểu nói phóng đại và ngôn ngữ hình tượng, để khắc sâu hơn vào tâm trí người nghe một số ý tưởng. Chẳng hạn trong chuyện giơ má ra, quan trọng không phải là giơ má (có khi hành vi này lại có vẻ khiêu khích), nhưng là đừng dùng bạo lực chống lại bạo lực, lấy thinh lặng đương đầu với giận dữ. Theo nghĩa này, câu Ngài trả lời cho tên lính là gương mẫu về sự hiền lành của Thiên Chúa. Để đánh giá tầm quan trọng của nó, chỉ cần so sánh với phản ứng của tông đồ Phaolô (dù Phaolô cũng là một vị thánh) trong tình huống tương tự. Đứng trước Thượng Hội đồng Do thái, khi vị Thượng tế Khanania truyền vả Phaolô, Phaolô lớn tiếng: “Bức tường đá vôi kia, Thiên Chúa sẽ đánh ông” (Cv 23.2-3).

Có một nghi vấn cần phải làm sáng tỏ. Cũng trong cũng “Bài giảng trên núi”, Đức Giêsu nói:

“Ai giận anh em mình thì phải bị đưa ra tòa. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc thì phải bị đưa ra trước Thượng Hội đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo thì phải bị lửa hỏa ngục thiêu đốt” (Mt 5,22).

Rồi nhiều lần trong Phúc Âm, Đức Giêsu gọi những người Biệt Phái và kinh sư là “đồ giả hình, ngu si, mù quáng” (Mt 23,17), trách các môn đệ “tối dạ, chậm tin” (Lc 24,25).

Điều này cắt nghĩa cũng đơn giản thôi. Phải phân biệt nhục mạ và sửa lỗi. Đức Giêsu lên án những lời nói giận dữ, cố ý xúc phạm tới anh em, nhưng không lên án những lời nhằm giúp cho người khác ý thức về lỗi lầm của mình và sửa chữa. Khi một người cha nói với con mình : mày là đứa vô kỷ luật, không biết vâng lời, thì lời ấy không có ý xúc phạm đứa con đâu, nhưng muốn giúp nó sửa đổi tính tình. Trong Kinh Thánh, ông Môsê được khen là “người hiền lành nhất đời” (Ds 12,3). Vậy mà trong sách Đệ nhị luật, ta thấy ông nói với Israel: “Hỡi dân tộc ngu si khờ dại, ngươi đáp đền ơn Chúa vậy sao?” (Đnl 32,6).

Khác nhau ở chỗ người nói những câu đó là nói với tấm lòng yêu thương hay thù ghét. Augustinô bảo: “Hãy yêu đi rồi làm điều bạn muốn”. Khi yêu thì sửa lỗi hay bỏ qua cũng sẽ là yêu. Tình yêu không làm hại người khác. Từ gốc rễ tình yêu, như từ một cây tốt, chỉ có thể sản sinh những hoa trái tốt[38].

Chúng ta đi đến nét riêng của Mối Phúc này, đó là tấm lòng. Đức Giêsu nói: “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.” Lòng là nơi quyết định có hiền hậu thật hay không. Ngài nói: chính từ lòng người phát xuất những ý định xấu: giết người, độc ác, phỉ báng” (x. Mc 7,21-22), giống như từ lòng núi lửa sôi sục vọt ra dung nham, đá và tro bụi nóng. Những vụ bạo động lớn nhất, những chiến tranh và trận chiến, như thánh Giacobê nói, bắt đầu âm thầm từ những “đam mê khuấy động bên trong con người” (x. Gc 4,1-2). Cũng như có ngoại tình trong lòng thì cũng có giết người trong lòng: “Ai ghét anh em mình thì là kẻ sát nhân” (1Ga 3,15).

Không chỉ có bạo lực nơi bàn tay, mà còn có bạo lực trong tư tưởng. Nếu để ý, ta thấy trong ta hầu như lúc nào cũng có những “vụ xử kín” (procès à huis clos) (*). Trong những bản dịch các Mối Phúc bằng tiếng Anh, thay vì hiền lành người ta thấy từ gentle, những người “tử tế”. Thuật ngữ này cũng được giải thích là hiền lành, cần phải nhắc lại. Thánh Phaolô đã khuyên các tín hữu Philipphê: “Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hòa rộng rãi.” (Pl 4,5). Từ Hy lạp mà chúng ta dịch là “hiền hòa rộng rãi” (modération) có nghĩa toàn bộ các thái độ từ lòng khoan dung tới khả năng nhượng bộ, tỏ ra đáng yêu, ân cần, niềm nở, gần với những gì chúng ta hôm nay hiểu về sự tử tế (“gentillesse”).

Tiên vàn cần tái khám phá giá trị nhân văn của nhân đức này. Sự tử tế là một nhân đức chịu nhiều nguy cơ, hoặc được coi như đang trên đường lụi tàn trong xã hội mà chúng ta đang sống. Bạo lực vô cớ được trình bầy trong các phim ảnh và truyền hình, ngôn ngữ dung tục cố ý, cuộc chạy đua xem ai là người sẽ đầu tiên vượt quá giới hạn có thể dung thứ về chuyện tàn bạo và giới tính được vạch trần công khai, khiến chúng ta quen với tất cả những biểu hiện của bạo lực và thô tục.

Sự tử tế là một thứ nhựa thơm trong các mối quan hệ giữa con người với nhau. Tôi xác tín là cuộc sống sẽ tốt hơn trong gia đình, nếu như có một chút tử tế hơn trong các cử chỉ, lời ăn tiếng nói và nhất là có những tình cảm trong lòng. Không gì làm hỏng niềm vui được sống với nhau cho bằng những cách ứng xử thô lỗ. Kinh Thánh cho biết:

“Câu đáp dịu dàng khiến cơn giận tiêu tan, lời nói khiêu khích làm nổi cơn thịnh nộ. […] Lời xoa dịu tựa cây ban sự sống” (Cn 15,1-4) “Ăn nói dịu dàng thì tăng thêm bạn hữu, phát biểu dễ thương thì tăng thêm lời thân ái.” (Hc 6,5)

Một người tử tế đi đến đâu cũng gây được thiện cảm và được người ta thán phục. “Ông/bà ấy thật tử tế”, đó là lời đầu tiên người ta bình phẩm khi người đó ra đi.

Bên cạnh giá trị nhân văn, chúng ta còn thấy sự tử tế có giá trị Phúc âm nữa, một giá trị không chỉ là một vấn đề về giáo dục và về những cách hành xử đẹp. Trong Kinh Thánh, những hạn từ “hiền lành” và “quá hiền” không có nghĩa “phục tùng” hay “dễ dãi”, nhưng nói lên cách hành xử của một người biết tôn trọng, lịch sự, tao nhã, thuận hòa với người khác.

Phaolô xếp sự tử tế vào số hoa quả của Thần Khí khi ngài nói rằng “Hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ” (Gl 5,22). Theo thánh Tôma, sự tử tế là một phẩm chất của đức ái. Điều này không loại trừ một cơn giận chính đáng, nhưng cho phép tiết chế sao cho cơn giận không cản trở người ta bình tĩnh xét đoán sự việc cách công bằng. Đó là dấu chỉ rõ ràng nhất giúp ta nhận ra người trước mắt chúng ta là một con người nhân bản, có sự nhạy cảm và phẩm giá của mình, và chúng ta không hơn họ.

6. Mặc lấy những tâm tình hiền lành của Đức Kitô

Một nhận xét trước khi kết luận. Tự bản chất, các Mối Phúc hướng tới chỗ thực hành. Chúng kêu gọi người ta bắt chước, làm cho công việc của con người được phong phú. Chúng ta có nguy cơ chán nản khi thấy mình không có khả năng thực hiện trong đời sống riêng của ta, thấy có vực sâu ngăn cách giữa lý tưởng và thực hành. Nhắc lại ở đây mục đích mà Luthêrô đã gán cho các Mối Phúc có lẽ là điều hữu ích: thúc giục tội nhân thừa nhận mình không có khả năng, và biến các nhân đức của Đức Kitô thành của mình.

Như đã nói ở đầu chương này, các Mối Phúc là bản chân dung tự họa của Đức Giêsu. Ngài đã sống tất cả những Mối Phúc ấy, và sống cách viên mãn. Tuy vậy – và đây là tin vui cho ta – Ngài không chỉ sống chúng cho bản thân mình, mà còn cho tất cả chúng ta. Ngoài việc được mời gọi bắt chước các Mối Phúc, chúng ta còn được mời gọi biến các Mối Phúc đó thành của mình. Trong đức tin, chúng ta có thể có được sự hiền lành của Đức Kitô, cũng như sự trong sạch của trái tim Ngài, hoặc bất cứ nhân đức nào trong các nhân đức của Ngài. Chúng ta cũng có thể cầu xin để có được tấm lòng hiền hậu, như thánh Augustinô đã cầu xin để có được tấm lòng khiết tịnh:

“Lạy Chúa, xin truyền cho con sống hiền lành, xin ban cho con điều Chúa truyền và truyền cho con điều đẹp lòng Chúa[39].”

Thư Colossê viết: “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại” (Cl 3,12). Sự nhân hậu và hiền lành giống như một chiếc áo mà Đức Kitô đã có được cho ta nhờ công lao của Ngài, và chúng ta có thể mặc, trong đức tin, không phải để được miễn thực hành, nhưng để khuyến khích ta thực hành. Thánh Phaolô xếp sự hiền lành vào số những hoa quả của Thần Khí (Gl 5,23), nghĩa là vào số những phẩm chất mà người tín hữu minh chứng trong cuộc sống của mình, khi lãnh nhận Thần Khí của Đức Kitô, và cố gắng đáp ứng.

Chúng ta có thể kết thúc bằng cách cùng nhau tin tưởng lặp lại lời cầu xin rất hay trong kinh cầu Trái tim Chúa Giêsu : Lậy Đức Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin uốn lòng chúng con nên giống Trái Tim Chúa (Iesu, mitis et humilis corde, fac cor nostrum secundum cor tuum).

———-

(*) Trong Bài giảng II Mùa Chay năm 2007 ở Phủ Giáo hoàng, cha Cantalamessa diễn giải “vụ xử kín” như sau:

Nếu để ý, ta thấy trong ta hầu như lúc nào cũng có những vụ xử kín (procès à huis clos). Một đan sĩ vô danh đã viết những trang rất sâu sắc về đề tài này. Ông nói với tư cách một đan sĩ, nhưng điều ông nói không chỉ áp dụng cho các đan viện. Ông đưa ra thí dụ về các thành viên, nhưng rõ ràng vấn đề cũng đặt ra cho các bề trên, tuy theo một cách thức khác. Ông viết:

“Cứ quan sát ý nghĩ của bạn, dù chỉ một ngày thôi, bạn sẽ ngạc nhiên thấy có những ý nghĩ phê bình thường xuyên và sống động, với những người đối thoại tưởng tượng, nếu không muốn nói là những người xung quanh bạn. Từ đâu mà có những lời phê bình ấy? Từ những sự kiện này: bất mãn với bề trên, vì không được các ngài yêu thương và hiểu biết, các ngài nghiêm khắc, bất công hoặc quá bủn xỉn với ta…; bất mãn với anh em, vì ít thông cảm, cứng đầu, phiến diện, vô trật tự… Khi ấy, một tòa án được thiết lập trong tâm trí ta, trong đó chúng ta là biện lý, chánh án, thẩm phán, hiếm khi là trạng sư trừ khi để bênh vực ta. Chúng ta trình bầy những sai lầm, cân nhắc lý do, tự bảo vệ và biện minh, lên án người vắng mặt. Đôi khi chúng ta đề ra các chương trình trả đũa, những hành động gian giảo báo thù”. [Un monaco, Le porte del silenzio, Ancora, Milano, 1986, p. 17 (Originale: Les portes du silence, Librairie Claude Martigny, Genève)]

IV. “PHÚC CHO ANH EM LÀ NHỮNG KẺ BÂY GIỜ ĐANG PHẢI ĐÓI, VÌ THIÊN CHÚA SẼ CHO ANH EM ĐƯỢC NO LÒNG”

1. Lịch sử và Thần Khí

Công cuộc tìm kiếm Đức Giêsu lịch sử, có tính chất thời thượng ngày hôm nay, cho dù do các chuyên viên tín hữu làm, hay do những người vô tín làm, cũng rất nguy hiểm, vì làm cho người ta tưởng rằng tất cả những gì sẽ được nói ra qua con đường mới mẻ này về Đức Giêsu, sẽ được coi là xác thực, và tất cả những gì khác đều không xác thực. Quả thực, điều đó có nghĩa là chỉ giới hạn vào Lịch sử những phương tiện được Thiên Chúa sử dụng để tự mạc khải mình. Như vậy là mặc nhiên từ bỏ chân lý đức tin của sự linh hứng Thánh kinh, và do đó tính chất mạc khải của Sách Thánh.

Lời Thiên Chúa, lời quy chuẩn đối với người tín hữu, không phải là hạt nhân nguyên thủy giả định mà các sử gia muốn tái tạo bằng nhiều cách, nhưng hệ tại ở những gì được viết trong Phúc Âm. Lưu ý đến thành quả của những công cuộc tìm kiếm lịch sử là điều quan trọng, vì cho phép ta hiểu sự tiến triển về sau của truyền thống, nhưng chúng ta vẫn tiếp tục công bố: “Đó là lời Chúa” khi kết thúc bài Phúc Âm, chứ không phải khi kết thúc bài đọc của sách cuối cùng về Đức Giêsu lịch sử.

Hai cách đọc, đọc theo lịch sử và đọc theo đức tin, nơi cả hai có một điểm gặp nhau quan trọng. Một chuyên viên Tân Ước nổi tiếng đã viết: “Một biến cố mang tính lịch sử khi tập hợp hai truy vấn : biến cố đã “xảy ra” và, hơn nữa, có tầm quan trọng đáng kể và mang tính quyết định đối với những người có liên hệ và đã xác chứng câu chuyện[40].” Có vố số sự kiện đã xẩy ra, nhưng chúng ta không coi chúng như “thuộc về lịch sử”, vì chúng không để lại dấu vết nào trong Lịch sử. Chúng không làm ai quan tâm, và không gì làm cho chúng lại xẩy ra nữa. Như vậy, “thuộc về lịch sử” không chỉ là một sự kiện đã xẩy ra, trần trụi và sống sượng, nhưng là sự kiện cộng thêm với ý nghĩa của nó.

Cách tiếp cận này cho thấy các sách Phúc Âm “thuộc về lịch sử”, không do điều các sách ấy thuật lại đã thực sự xẩy ra cho bằng do ý nghĩa các sự kiện mà Phúc Âm làm sáng tỏ dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần. Các tác giả sách Phúc Âm, và cộng đồng thời tông đồ trước các ngài, do những thêm thắt và nhấn mạnh khác nhau của mình, chỉ làm sáng tỏ những ý nghĩa hay hàm ý của một sự kiện hay một lời của Đức Giêsu. Vả lại, điều các ngài làm sáng tỏ không ở bên kia, nhưng ở bên này của điều chứa đựng tiềm tàng trong sự kiện hay lời nói, vì người ta phải gán cho những lời của Đức Kitô nói chung, một cách rất nghiêm túc, tính chất “vô tận” mà các Giáo Phụ nhận ra nơi Kinh Thánh[41].

Gioan quan tâm để Đức Giêsu cắt nghĩa trước sự kiện này cho mình, khi gán cho Ngài những lời sau đây:

“Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ anh em không có sức chịu nổi. Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xẩy đến. ” (Ga 16,12-13)

Ở đây, người ta thấy lại vấn đề muôn thuở về mối tương quan giữa Lịch sử và Thần Khí. Lịch sử không Thần Khí thì câm. Thần Khí không Lịch sử thì mù.

Dường như đòi hỏi không giới hạn việc nghiên cứu Tân Ước vào Lịch sử mà thôi, bắt đầu vạch ra một con đường nơi các chuyên gia Kinh Thánh; những người này thêm vào khoa chú giải lịch sử-ngữ học một khoa chú giải được định nghĩa là “qui điển”, khoa này trên thực tế có để ý đến quy điển Kinh Thánh và giá trị thần học phát xuất từ đó.

2. Ai là người “đói khát” và ai là người “no thỏa?”

Những nhận xét trên đây đặc biệt hữu ích cho chúng ta khi phải sử dụng các Mối Phúc Tin mừng.

Chúng ta biết các Mối Phúc trong hai bản văn khác nhau. Nơi Matthêu có tám Mối Phúc, nơi Luca chỉ có bốn, nhưng tiếp ngay sau là bốn mối họa, đối nghịch với các Mối Phúc. Nơi Matthêu, diễn từ có tính chất gián tiếp: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó”, “Phúc thay ai khao khát”, còn nơi Luca, diễn từ có tính chất trực tiếp: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó”, “Phúc cho anh em là những kẻ đang phải đói”. Matthêu nói về những người “có tâm hồn” nghèo khó, những người “khát khao nên công chính”. Luca nói thuần túy về “những người nghèo khó”“những người đang phải đói”. Người ta hẳn nói rằng ngay cả bầu khí bên ngoài cũng phản ánh những viễn tượng khác nhau này: Matthêu thiên về thiêng liêng hơn, nên để Đức Giêsu công bố bài diễn từ ở trên cao, trên núi; Luca chú ý hơn tới những gì đang xẩy ra dưới đất, nên để Đức Giêsu công bố ở dưới thấp, chỗ đất bằng (Lc 6,17).

Sau tất cả công việc phê bình để phân biệt trong các Mối Phúc điều gì đưa về Đức Giêsu lịch sử, điều gì là riêng của Matthêu và của Luca, trách nhiệm của người tín hữu hôm nay không phải là giữ lại một trong hai bản với danh nghĩa là có sự xác thực, và bỏ qua bản kia. Đúng hơn phải thu nhận sứ điệp chứa đựng trong cả hai bản và – tùy trường hợp và nhu cầu của thời đại – lần lượt làm tăng giá trị viễn tượng này hay viễn tượng kia, như mỗi người trong hai tác giả sách Phúc Âm đã từng làm trong thời của các ngài.

Theo nguyên tắc này, hôm nay chúng ta suy niệm về Mối Phúc của những người đang đói, khởi đi từ nhãn quan của Luca: “Phúc cho anh em là những người bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng” (Lc 6,21). Như chúng ta sẽ thấy sau, bản văn Matthêu “khát khao nên người công chính” không đối nghịch với bản văn Luca, nhưng củng cố và tăng cường bản văn này. Khi nghe công bố Mối Phúc này, nhiều người phản ứng, tức tối: làm sao có thể công bố những người đói khát là có phúc, trong một thế giới có hàng triệu người lớn và trẻ em chết đói, trong khi nhiều người khác có dư thừa đồ ăn thức uống đến nỗi phải vất vào thùng rác hàng tấn thực phẩm?

Một sự tức giận quá đúng mà chính Đức Giêsu cũng chia sẻ. Ngài nói đến một mối họa “Khốn cho” ngay sau Mối Phúc này: “Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói!”. Đức Giêsu đã đưa ra dụ ngôn về ông nhà giầu và người nghèo khó Ladarô (Lc 16,19-31), chính là để tố giác tình trạng, tuy hiển nhiên là không mới trên thế giới, nhưng người ta thấy lại thậm chí trên phạm vi toàn cầu. Trong Mối Phúc, Đức Giêsu nói: “Phúc cho những người đang đói, vì họ sẽ được no thỏa”; “Khốn cho các ngươi là những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các người sẽ phải đói”. Trong dụ ngôn, cùng một kết luận được trình bầy theo cách kể truyện: “Thế rồi người nghèo này chết và được thiên thần đem vào lòng ông Abraham. Ông nhà giầu cũng chết, và người ta đem chôn dưới âm phủ.”

Những người đang đói trong Mối Phúc theo Luca không thuộc về một hạng người khác với hạng người được nói đến trong Mối Phúc thứ nhất. Tất cả đều là những người nghèo, được xem xét dưới khía cạnh đáng thương nhất trong điều kiện của họ: thiếu lương thực. Song song với những người trên, những người no thỏa, là những người giầu có, sung túc, có thể làm thỏa mãn nhu cầu của mình đã vậy, mà còn làm thỏa mãn thói tham ăn tham uống của mình. Ngay cả dụ ngôn ông nhà giầu cũng xem xét sự giàu nghèo dưới góc độ thiếu hay thừa lương thực: ông nhà giầu thì “ngày ngày yến tiệc linh đình”, anh người nghèo thì “thèm những thứ trên bàn ăn của ông ấy rơi xuống mà ăn cho no”, nhưng chẳng ai cho cả. Nét tương phản còn tiếp tục, đảo lộn trong thế giới bên kia: trước đây, Ladarô muốn những thứ từ trên bàn của người giầu mà ăn cho no; ngày hôm nay, chính người giầu van xin Ladarô rưới xuống mấy giọt nước để thoa dịu cơn khát của ông.

Tuy vậy, dụ ngôn không chỉ nhằm cho biết ai là người đói khát và ai là người no thỏa. Nó còn muốn cho thấy tại sao người trước được coi là hạnh phúc và người sau lại bất hạnh. Ông nhà giầu cũng như những người giầu có khác không bị kết án chỉ vì mình giầu, nhưng vì cách sử dụng hay không sử dụng sự giầu có của mình, và theo những gì sự giầu có gây ra nơi họ.

Sự giầu có và no thỏa dễ làm cho người ta chỉ biết nhìn đến những của cải trần gian, vì như Chúa nói: “Kho tàng của anh em ở đâu, thì lòng anh em ở đó” (Lc 12,34). Chúng làm cho lòng con người ra nặng nề, vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời (21,34) bóp nghẹt nơi họ hạt giống lời Chúa (x. Mt 13,22). Chúng làm cho người ta không còn nhớ rằng có thể ngay ngày hôm sau người ta phải tính sổ về cuộc đời của mình (Lc 16,19-31). Người giầu không có được may mắn, vì đối với họ, vào Nước Trời “khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim”.

Trong dụ ngôn, Đức Giêsu giúp cho người ta hiểu rằng hẳn là đã có một lối thoát cho người giầu, đó là nhớ tới Ladarô đang ngồi ngoài cửa, và chia sẻ bữa tiệc thịnh soạn với anh ta. Giải pháp là ở chỗ “dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè” (Lc 16,9), ở chỗ mời vào ăn “những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù” (Lc 14,13-14). Nhưng điều kiện quá thỏa mãn làm cho tinh thần ra đờ đẫn, khiến người ta thực khó mà đi vào con đường này (câu truyện Dakêu cho thấy là có thể, nhưng họa hiếm biết bao!). Do đó ta hiểu vì sao Đức Giêsu cảnh báo người giầu có no thỏa bằng mối họa “Khốn cho!” Lời “Khốn cho”, phát xuất từ tình yêu, là một lời đòi người ta phải lưu ý, hơn là một lời nguyền rủa.

Bình giải hay nhất về Mối Phúc của người nghèo khó và đói khát là của Đức Maria trong kinh Magnificat: “Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư, Người giầu có lại đuổi về tay trắng” (Lc 1,51-53). Sử dụng một loạt những động từ mạnh ở thì aoriste (thì quá khứ trong tiếng Hy lạp), Đức Maria cho thấy sự đảo ngược và thay đổi tận căn tình trạng giữa những con người: “Người đã hạ bệ! Người đã nâng cao! Người đã ban của đầy dư! Người đã đuổi về tay trắng!” Vậy đó là một biến cố đã xẩy ra hoặc thường bắt gặp lại trong cách hành động của Thiên Chúa.

Nếu người ta nhìn vào Lịch sử, thì không gì cho thấy có một cuộc cách mạng xã hội trong đó người giầu bỗng trở nên nghèo, người đói khát bỗng được no thỏa. Cuộc đảo lộn có đó, nhưng trong đức tin. Nước Thiên Chúa đã tỏ hiện, gây ra một cuộc cách mạng âm thầm nhưng triệt để. Người giầu giống như một người để dành một số tiền rất lớn, nhưng ban đêm, sau cuộc đảo chính, số tiền này mất giá 100%, và khi ngủ dậy, người ấy đột nhiên thấy mình trở thành một người nghèo khó và đáng thương. Ngược lại, người nghèo khó và đói khát lại được ưu đãi, vì được chuẩn bị tốt hơn để đón nhận thực tế mới. Họ không sợ thay đổi, tâm hồn họ đã sẵn sàng.

Thánh Giacôbê đã nói với những người giầu có như sau: “Các người hãy than van rên rỉ về những tai họa sắp đổ xuống trên đầu các người. Tài sản của các người đã hư nát” (Gc 5,1-2). Ngay cả như thế, thì vào thời Giacôbê, không có dấu gì cho thấy kho tài sản của những người giầu sắp sửa cạn đáy. Ở đây, ngài chỉ muốn nói rằng một biến cố đã xẩy ra làm tiêu tan mọi giá trị thực sự của giầu có: chính là một sự giầu có mới mẻ khác xuất hiện. “Thiên Chúa đã chọn những kẻ nghèo khó trước mặt người đời, để họ trở nên người giầu đức tin và thừa hưởng Vương quốc” (Gc 2,5).

Đôi khi có người cho rằng lời trong bài Magnificat, còn hơn cả lời “khích động lật đổ kẻ quyền thế xuống khỏi ngai vàng để nâng cao những người phận nhỏ”, chính là một lời cảnh báo có ích cho người giầu có và quyền thế về những nguy hiểm kinh khủng đang rình chờ họ. thật giống như lời “Khốn cho” của Đức Giêsu, và dụ ngôn ông nhà giầu bất nhân.

3. Một dụ ngôn cho ngày hôm nay

Suy tư về Mối Phúc của người đói khát và người no thỏa không giới hạn ở chỗ chú giải ý nghĩa, bản văn và ngữ cảnh. Nó phải giúp ta đọc những gì xẩy ra quanh ta, và giúp ta hành động theo hướng mà Phúc Âm đề ra.

Dụ ngôn ông nhà giầu bất nhân và anh Ladarô nghèo khó đang được lặp lại ngày hôm nay, giữa chúng ta, trong phạm vi thế giới. Quả thực, hai nhân vật biểu thị cho hai bán cầu: người giầu có là Bắc bán cầu (Tây Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản); người nghèo khó là Nam bán cầu, trừ một vài quốc gia. Hai nhân vật, hai thế giới: thế giới đệ nhất và thế giới đệ tam. Hai thế giới có tầm vóc chênh lệch nhau: quả thực thế giới mà ta gọi là đệ tam thực tế chiếm hai phần ba thế giới.

Phung phí là nét chung trong các nước giầu có. Trước đây nhiều năm, tại Hoa Kỳ, người ta tính rằng cứ 161 triệu tấn thực phẩm thì có đến 43 triệu tấn bị vất vào thùng rác (gần ¼). Nếu muốn, người ta có thể dễ dàng giữ lại 2 triệu tấn số thực phẩm bỏ đi này, một con số đủ nuôi 4 triệu người trong một năm.

Tội nặng nhất chống lại người nghèo khó và người đói khát có lẽ là tội thờ ơ, lãnh đạm, của những người giả vờ như không thấy, người “tránh qua một bên” (x. Lc 10,31), người tránh sang vỉa hè bên kia. Không biết đến bao nhiêu người đói khát, ăn xin, không nhà không cửa, không được giúp đỡ thuốc men, nhất là không hy vọng gì về một tương lai sáng sủa hơn – như Đức Gioan Phaolô II viết trong Thông điệp Sollicitudo rei socialis (Quan tâm đến vấn đề xã hội), số 42 – chính là đồng hóa mình với ông nhà giầu bất nhân “vờ như không biết đến người ăn xin Ladarô đang ngồi trước cửa” (x. Lc 10,31).

Chúng ta có khuynh hướng lắp bộ đôi cửa kính giữa người nghèo và ta. Hiệu quả của bộ đôi cửa kính, hiện được sử dụng nhiều, là để ngăn gió lạnh và tiếng ồn lùa vào, làm mọi sự yếu đi, giảm đi. Đúng là chúng ta thấy người nghèo rục rịch, cựa quậy, hò hét trên vô tuyến truyền hình, trên báo chí hay tập san truyền giáo, nhưng tiếng kêu cứu của họ dường như từ rất xa. Nó không đánh động tâm hồn ta hoặc chỉ đánh động chốc lát.

Cho nên, việc đầu tiên phải làm cho người nghèo, là đập vỡ “bộ đôi cửa kính”, vượt qua sự lãnh đạm, vô cảm, những viện cớ này khác để xa tránh những con người này, biết lo lắng trước những cảnh ngộ lầm than đen đủi tràn lan trên thế giới. Tất cả chúng ta được mời gọi chia sẻ những tâm tình của Đức Kitô: “Thầy chạnh lòng thương đám đông, vì họ không có gì ăn” (x. Mc 8,2). Đi thăm một số nước châu Phi, khi chúng ta có dịp thấy tận mắt – chứ không phải trên bản đồ – cảnh lầm than đói khát trong các làng mạc và các cùng ngoại ô tại những thành phố lớn, thì không còn quá khó khăn nữa…

Làm sao hủy bỏ hay giảm thiểu hố sâu bất công quá đáng ngăn cách giữa người no thỏa và người đói khát trên thế giới, đó là thách thức cấp bách nhất, nhiệm vụ nặng nề nhất dành cho thiên niên kỷ vừa mới bắt đầu. Một sự dấn thân mà các tôn giáo phải cho thấy rõ hơn, hoạt động phối hợp vượt lên trên mọi tranh chấp. Không một lãnh đạo quốc gia nào, không một quyền lực chính trị nào có thể thực hiện một công trình như thế, do những lợi ích quốc gia của họ, mà thường ra là những lợi ích kinh tế.

Trong buổi nói chuyện với ngoại giao đoàn bên cạnh Tòa thánh ngày 8 tháng 1 năm 2007, Đức Bênêđitô XVI đã phát biểu mạnh mẽ:

“Trong số những vấn đề chủ yếu, làm sao lại không nghĩ tới hàng triệu con người, đặc biệt phụ nữ và trẻ em, đang thiếu lương thực, nước uống và một mái nhà để dung thân. Tình trạng đáng buồn về nạn đói có khuynh hướng gia tăng, là chuyện không chấp nhận được trong một thế giới có nhiều của cải, kiến thức và phương tiện để chấm dứt tình trạng ấy”.

Trong thế giới hiện nay, kỹ thuật cho phép trao đổi trong thời gian thực tất cả các loại thông tin, không có bất kỳ rào cản nào giữa thế giới đệ nhất và thế giới đệ tam, nhưng nó dừng lại khi nói đến việc trao đổi những mặt hàng cần thiết nhất cho cuộc sống, mặt hàng thực phẩm.

4. “Phúc thay ai khao khát nên người công chính”

Như tôi đã nói ở đầu bài suy niệm, hai bản văn về Mối Phúc của những người đang đói, tức bản văn của Matthêu và bản văn của Luca, không được trình bầy xen kẽ nhau, nhưng sáp nhập vào nhau. Matthêu không nói về sự đói khát phần xác, nhưng về đói khát “nên người công chính”. Từ điều trên đây, người ta rút ra hai cách giải thích căn bản. Cách giải thích thứ nhất theo đường lối thần học Luthêrô, giải thích Mối Phúc dựa vào điều Phaolô nói về sự công chính hóa bởi đức tin. Đói khát nên người công chính có nghĩa là ý thức về nhu cầu cần sự công chính, cũng như về việc không thể chỉ dùng việc làm mà có được nó, nên khiêm tốn chờ đợi Chúa ban. Cách giải thích thứ hai thấy sự công chính này không phải là “sự công chính do Thiên Chúa thực hiện hoặc ban cho con người, nhưng là sự công chính Thiên Chúa chờ đợi nơi con người, sự công chính có giá trị cho con người như Giuse được gọi là công chính (Mt 1, 19)[42].”

Dựa vào cách giải thích thứ hai này, được nhiều người chấp nhận hơn và có nền tảng hơn trên bình diện chú giải, sự đói khát phần xác theo Luca và sự đói khát thiêng liêng theo Matthêu có liên hệ với nhau. Việc đứng về phía những người đói khát và nghèo khó nằm trong số những việc làm công chính, và theo Matthêu, sẽ là tiêu chuẩn nền tảng, để xem ai là người công chính và ai là người bị loại, trong ngày chung thẩm (x. Mt 25).

Tất cả sự công chính mà Thiên Chúa chờ đợi nơi con người đều quy về giới răn mến Chúa yêu người (x. Mt 22,40). Vì vậy lòng thương yêu tha nhân phải thúc đẩy những người khao khát nên công chính quan tâm tới những người đói khát phần xác. Đây là nguyên tắc lớn để Phúc Âm hành động trên bình diện xã hội. Về điểm này, thần học giải phóng có quan điểm đúng, như những lời của Adolph von Harnack, một trong những đại biểu sáng giá nhất, cho thấy:

“Không chỗ nào trong Phúc Âm cho ta thấy phải thờ ơ trước những nhu cầu của anh em ta. Sự thờ ơ có tính Phúc âm (không quan tâm xem ngày mai người ta sẽ ăn gì, mặc gì) biểu lộ hơn tất cả những gì mà mỗi tâm hồn phải cảm thấy trước thế giới, của cải và kỹ thuật của nó. Ngược lại, khi là về người khác, Phúc Âm cũng không muốn nghe nói nữa về sự thờ ơ, nhưng áp đặt tình yêu và thương xót. Hơn nữa, Phúc Âm coi những nhu cầu thiêng liêng và trần thế của người anh em như tuyệt đối không thể tách rời nhau[43].”

Phúc Âm không khuyến khích người đói khát đòi hỏi công lý một mình, không khuyến khích người ta nổi dậy, nhất là vì vào thời Đức Giêsu, khác với ngày nay, không có phương tiện nào, trên lý thuyết cũng như trên thực tế, để làm việc đó. Phúc Âm không đòi họ hy sinh vô ích để phải bị giết khi chạy theo người khuấy động nào đó thuộc nhóm Nhiệt Thành hoặc chạy theo một lãnh tụ kiểu Spartacus. Đức Giêsu không đứng về phía yếu, cũng không đứng về phía mạnh. Ngài dùng kiểu nói “Khốn cho!” để đương đầu với sự tức giận và những lời mỉa mai của những người giầu (x. Lc 16,14), tránh cho chính các nạn nhân khỏi phải làm việc đó.

Muốn tìm bằng mọi giá trong Phúc âm những kiểu mẫu, hoặc những lời kêu gọi người nghèo khó và đói khát đứng lên tranh đấu để thay đổi số phận, không cần nhờ đến ai khác, thì quả là chuyện vô ích và không phù hợp. Cũng vậy điều đó sẽ khiến họ quên đi sự đóng góp thực sự mà họ có thể mang lại cho chính nghĩa của họ. Về điểm này, Rudolph Bultmann có lý khi ông viết rằng “Kitô giáo không biết đến bất cứ một chương trình nào làm biến đổi thế giới, và không có đề nghị nào nhằm canh tân những điều kiện chính trị và xã hội”, cho dù quả quyết của ông có lẽ cần một vài phân biệt tế nhị.[44]

Phương thế mà các Mối Phúc đề nghị không phải là phương thế duy nhất để đương đầu với vấn đề giầu có và nghèo khó, đói khát và no thỏa. Có thể có những phương thế khác, nhờ ý thức xã hội ngày một tiến bộ, khởi đi từ Lịch sử chứ không từ đức tin. Các Kitô hữu ủng hộ chúng cách chính đáng và Giáo Hội, nhờ học thuyết xã hội của mình, giúp họ phân định.

Sứ điệp lớn của các Mối Phúc có thể tóm tắt như sau: bất kể những gì người giầu có và no thỏa sẽ làm hay không làm, mà ngay cả như vậy thì trong tình hình hiện nay, tình trạng của những người nghèo khó và đói khát sự công chính là tốt hơn cho họ. Một vài diện hay khía cạnh của thực tế mà người ta không thấy bằng mắt trần, nhưng chỉ thấy nhờ một ánh sáng đặc biệt, nhờ các tia hồng ngoại và tử ngoại. Người ta hay sử dụng chúng trong các hình ảnh do vệ tinh chụp được. Hình ảnh xem thấy nhờ ánh sáng này rất khác, làm cho người quen nhìn cảnh tượng ấy dưới ánh sáng tự nhiên phải sửng sốt. Các Mối Phúc là một loại tia hồng ngoại. Chúng cho ta một hình ảnh khác với thực tại, một hình ảnh độc nhất và chân thực, vì cho thấy điều sẽ còn lại cho tới tận thế, trong khi “thế gian này qua đi.”

5. Bánh vật chất và bánh Thánh thể

Đức Giêsu đã để lại cho chúng ta một bữa tiệc hoàn hảo, nhưng trái ngược với bữa tiệc của ông nhà giầu bất nhân: đó là Thánh Thể. Thánh Thể là cử hành hàng ngày bữa đại tiệc, mà chủ nhà mời gọi tất cả những người “nghèo khó, tàn tật, đui mù, què quặt” (Lc 14,21), tức tất cả những Ladarô nghèo khó quanh ta. Thánh Thể là bữa tiệc chia sẻ hoàn hảo giữa những người tham dự: cùng một của ăn, cùng một thức uống, cùng một số lượng, cho cả vị chủ sự lẫn người đến muộn nhất trong cộng đoàn, cho cả người giầu lẫn người nghèo.

Người ta có thể thấy rõ mối liên hệ giữa bánh vật chất và bánh thần thiêng trong Giáo Hội sơ khai, khi bữa tiệc của Chúa, gọi là agape, được tổ chức trong khung cảnh một bữa ăn huynh đệ, trong đó người ta chia sẻ cùng một bánh ăn và cùng một Thánh Thể. Khi thấy cộng đoàn Corintô không còn giữ thói quen tốt đẹp này, thánh Phaolô đã viết cho họ như sau:

“Khi anh em họp nhau, thì không phải là để ăn bữa tối của Chúa. Thật vậy, mỗi người lo ăn bữa riêng của mình trước, và như thế, kẻ thì đói, người lại say. Anh em không có nhà để ăn uống sao?” (1 Cr 11,20-22).

Một lời tố cáo nghiêm trọng, như thể Phaolô muốn nói với họ rằng: điều họ cử hành không còn phải là một bữa tiệc Thánh thể nữa.

Ngày nay, Thánh Thể không còn được sống trong trong khung cảnh một bữa ăn chung với nhau, nhưng sự tương phản giữa người có thừa thãi và người không có ngay cả cái cần thiết tối thiểu, mang những chiều kích toàn cầu, ngay cả nơi những người Kitô hữu. Tông huấn hậu-thượng hội đồng về Thánh Thể mạnh mẽ nhắc nhở:

“Lương thực sự thật đòi hỏi chúng ta phải tố giác những tình trạng vô nhân đạo, trong đó nhiều người phải chết đói do những bất công và bóc lột, và lương thực ấy đem lại cho chúng ta sức mạnh mới và sự can đảm, để không ngừng phục vụ cho nền văn minh tình thương[45].”

Tông huấn còn cho biết có thể đóng góp cụ thể vào việc này như thế nào:

“Những của bố thí thu góp trong cộng đoàn phụng vụ… những của từ thiện đó cũng thật cần thiết để đáp ứng những nhu cầu hiện tại. Những tổ chức bác ái của Giáo hội, đặc biệt Caritas, đã thực hiện công tác cứu giúp những người thiếu thốn nghèo túng ở những cấp độ khác nhau. Được gợi hứng từ Thánh Thể, Bí tích Tình yêu, họ trở thành một sự diễn tả cụ thể tình yêu ấy. Họ được tán dương và cổ võ vì dấn thân phục vụ sự liên đới trong thế giới chúng ta[46].”

Tưởng cũng cần nói thêm: những việc làm tương tự không chỉ được khuyến khích nơi các Kitô hữu. Nhiều người không thuộc Giáo Hội Công giáo, không biết đến Bí tích Tình yêu, cũng không nhân danh một tôn giáo nào, cũng có những hành vi bác ái với đồng loại thật đáng khen ngợi, chẳng hạn quyên góp cứu trợ những nạn nhân bão lụt.

Những hành vi trên, tuy chỉ như muối bỏ biển, chỉ là những giọt nước trong đại dương, nhưng như Mẹ Têrêxa Calcutta nói, chính đại dương cũng được tạo thành bằng những giọt nước nhỏ.

***

Chúng ta kết thúc bài suy niệm bằng lời kinh mà nhiều cộng đoàn đọc trước bữa ăn:

Lạy Chúa, xin ban phép lành cho những của ăn mà Chúa rộng lòng ban cho chúng con. Xin giúp chúng con, khi dùng của ăn này, cũng biết chia sẻ cho những người thiếu thốn.

V. “PHÚC THAY AI XÓT THƯƠNG NGƯỜI, VÌ HỌ SẼ ĐƯỢC THIÊN CHÚA XÓT THƯƠNG”

1. Lòng thương xót của Đức Kitô

Mối Phúc thứ năm, theo thứ tự được thánh Matthêu ghi nhận, là: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương”. Như thường lệ, từ chỗ quả quyết các Mối Phúc là bức chân dung tự họa của Đức Kitô, cả lần này nữa, chúng ta đặt ngay câu hỏi: Đức Giêsu đã xót thương người ta như thế nào? Cuộc đời của Ngài nói gì với ta về Mối Phúc này?

Theo Kinh Thánh, từ “thương xót” (hesed) có hai nghĩa căn bản. Trước hết nó cho thấy rõ thái độ của người mạnh hơn (trong Giao ước thì người này là chính Thiên Chúa) đối với người yếu hơn; thái độ này thường được diễn tả bằng việc tha thứ các lầm lỗi và bất trung. Nghĩa thứ hai chỉ thái độ trước nhu cầu và đau khổ, được diễn tả qua những việc từ thiện. Có thể nói: có một sự thương xót của tấm lòng và một sự thương xót của đôi tay.

Cả hai hình thức thương xót trên đây đều nổi bật trong cuộc đời của Đức Giêsu. Đức Giêsu phản ánh lòng thương xót của Thiên Chúa đối với tội nhân, nhưng Ngài cũng tỏ lòng thương xót trước mọi nỗi đau khổ và khó khăn của con người, ban lương thực cho đám đông, chữa lành các bệnh nhân, giải phóng những người bị áp bức. Tác giả Phúc Âm nói về Ngài như sau: “Người đã mang lấy các tật nguyền của ta, và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (Mt 8,17).

Trong Mối Phúc đang bàn, chắc chắn nghĩa thứ nhất, tức tha thứ tội lỗi, có ưu thế hơn. Chúng ta suy ra như thế từ sự tương ứng giữa Mối Phúc và phần thưởng dành cho mối phúc: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được xót thương”, nơi Thiên Chúa, Đấng người ta hiểu ngầm là sẽ tha thứ các lầm lỗi của họ. Câu: “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ” lập tức được làm rõ bằng câu tiếp theo: “Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha” (Lc 6,36-37).

Trong Phúc Âm, Đức Giêsu đón nhận những người tội lỗi là điều ai nấy đều biết, cũng vậy là những kẻ bảo vệ Lề Luật chống đối việc làm này của Ngài, chính họ tố cáo Ngài là “tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi” (Lc 7,34). Một trong những câu nói của Đức Giêsu qua đó người ta thấy rõ nhất chứng cớ lịch sử là: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mc 2,17). Những người tội lỗi thấy mình được Đức Giêsu đón nhận, thấy mình không bị Ngài xét xử, và đã sẵn lòng lắng nghe Ngài.

Những người tội lỗi này là ai? Hạn từ này áp dụng cho những người nào? Theo khuynh hướng phổ biến hiện nay muốn giải oan cho nhóm Biệt Phái của Phúc Âm, và gán một hình ảnh tiêu cực cho những thêm thắt sau này của các tác giả Phúc Âm, một số người quả quyết rằng các tội nhân đó là “những người cố tình phạm luật, không chịu hối cải [47]”. Nói khác đi, đó là những can phạm sống ngoài vòng pháp luật của thời ấy.

Nếu quả như vậy thì các đối thủ của Đức Giêsu thực sự có lý do cảm thấy bị xúc phạm, có lý do coi Ngài như một người vô trách nhiệm, một thành phần nguy hiểm cho xã hội. Giống như ngày nay người ta đánh giá một linh mục đi lại với bọn mafia, bọn vô lại, những kẻ phạm tội hình sự, lấy lẽ để nói về Thiên Chúa cho họ.

Thực ra, sự việc không phải vậy. Nhóm Biệt Phái có một nhãn quan riêng về lề luật, về những gì phù hợp hay không phù hợp với lề luật, và bác bỏ tất cả những người không phù hợp với lề luật. Đức Giêsu không phủ nhận tội lỗi có thực, cũng như tội nhân có thực. Ngài không biện minh cho những hành vi gian lận của Dakêu, cũng không biện minh cho tội ngoại tình của người phụ nữ. Sự kiện gọi những người đó là “người mắc bệnh” cho thấy rõ điều đó. Điều Đức Giêsu lên án là người ta muốn đặt ra một thứ công lý được coi là công lý thật, còn những loại công lý khác được coi là của “phường trộm cướp, những người bất công và ngoại tình”, như vậy là cho rằng họ không thể thay đổi. Chúng ta thấy Luca dẫn nhập vào dụ ngôn người Biệt Phái và người thu thuế bằng những lời rất có ý nghĩa: “Đức Giêsu kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào mình là người công chính mà khinh chê những người khác” (Lc 18,9). Quả thực Đức Giêsu tỏ ra nghiêm khắc với những người khinh bỉ hoặc lên án tội nhân hơn là với chính tội nhân[48].

2. Một Thiên Chúa thích thể hiện lòng thương xót

Để biện minh cho cách xử sự của mình đối với người tội lỗi, Chúa nói rằng Cha Ngài trên trời cũng hành động như vậy. Ngài nhắc cho kẻ thù lời của Thiên Chúa nói qua miệng các tiên tri: “Ta muốn lòng nhân từ chứ đâu cần lễ tế” (Mt 9,13). Lòng nhân từ đối với dân bất trung là một trong những nét nổi bật nơi Thiên Chúa của giao ước, được bày tỏ trong cuốn Kinh Thánh từ đầu đến cuối. Để cắt nghĩa những biến cố của lịch sử Israel, một Thánh vịnh đã lặp đi lặp lại như một thứ kinh cầu: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.” (Tv 136)

Như vậy, tỏ lòng thương xót là một khía cạnh chủ yếu của sự kiện được tạo dựng “theo hình ảnh và giống Thiên Chúa”“Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ” (Lc 6,36). Câu này là một cách giải thích dài dòng cho câu nổi tiếng trong sách Lêvi: “Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, Ta là Đấng Thánh” (Lv 19,2).

Tuy nhiên, điều khiến người ta ngạc nhiên nhất, liên hệ đến lòng thương xót của Thiên Chúa, chính là niềm vui của Người khi bày tỏ nó. Kết thúc dụ ngôn con chiên lạc, Đức Giêsu nói: “Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn” (Lc 15,7). Người đàn bà, khi tìm lại được đồng bạc bị đánh mất, đã nói với bạn bè: “Xin chung vui với tôi” (Lc 15,9). Còn trong dụ ngôn người cha nhân hậu hay đứa con phung phá, niềm vui bùng nổ biến thành lễ lạc, tiệc tùng. Chủ đề này không phải là một chủ đề đơn độc. Nó cắm rễ sâu trong Kinh Thánh. Trong Êdêkien, Thiên Chúa nói: “Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng vui khi nó thay đổi đường lối để được sống” (Ed 33,11). Tiên tri Mikha nói rằng Thiên Chúa “thích thú ban ơn” (Mi 7,18), tức là Người cảm thấy vui khi làm việc đó.

Người ta có thể thắc mắc: làm sao chỉ có một con chiên duy nhất mà lại đáng giá hơn chín mươi chín con chiên còn lại, hơn nữa, đây lại là con chiên đi lạc, khiến người chăn phải lo lắng đi tìm? Tôi thấy thi sĩ Charles Péguy đã đưa ra một cách giải thích đầy thuyết phục như sau: Cũng như người con út, con chiên này khi đi lạc đã làm cho trái tim của Thiên Chúa phải thổn thức, run rẩy. Thiên Chúa sợ mất nó mãi mãi, sợ buộc phải phạt nó, sợ không bao giờ còn được thấy nó. Chính sự sợ hãi này đã làm nẩy sinh niềm hy vọng nơi Người, và khi đang hy vọng mà thấy được cái mình tìm, thì hy vọng biến thành niềm vui và lễ lạc.

“Hành vi sám hối nào của con người cũng làm cho niềm hy vọng của Thiên Chúa kết thúc tốt đẹp[49].”

Đó là một ngôn ngữ hình tượng, như ngôn ngữ của Thiên Chúa, nhưng hàm chứa một sự thật.

Đối với con người chúng ta, điều kiện để có thể hy vọng là do chúng ta không biết được tương lai, nên chỉ có thể hy vọng mà thôi. Còn đối với Thiên Chúa, Đấng biết trước tương lai, thì điều kiện là do Người không muốn (và một cách nào đó là không thể) thực hiện điều Người muốn trái ý chúng ta. Sự tự do của con người cắt nghĩa sự hy vọng nơi Thiên Chúa.

Vậy phải nói gì về chín mươi chín con chiên không đi lạc và về người con cả? Trên trời không vui mừng vì chúng và vì anh ta sao? Nếu vậy, sống cả cuộc đời như những Kitô hữu tốt mà làm gì? Chúng ta hãy nhớ lại lời người cha đáp lại người con cả: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con” (Lc 15,31). Sai lầm của người con cả là coi việc luôn ở nhà, chia sẻ mọi sự với cha, không phải là một đặc ân lớn lao cho anh ta, mà là một công trạng. Anh ta có thái độ của một người làm công hơn là của một người con. Đây hẳn phải là một lời cảnh báo cho mọi người chúng ta, về cách chúng ta sống giống như người con cả.

Về điểm này, thực tế đã tốt hơn dụ ngôn. Trong thực tế, người con cả, tức Trưởng Tử của Chúa Cha, Ngôi Lời, không ở lại nhà cha. Ngài đi đến “một miền xa” để tìm người con út, tức là đi tìm cả nhân loại sa ngã. Chính Ngài đưa nhân loại về nhà Cha, mặc bộ đồ mới cho nó, mở tiệc mừng nó (là tiệc Thánh Thể mỗi ngày).

Trong một cuốn tiểu thuyết của mình, Dostoievski đã kể lại một cảnh tượng có vẻ như có thực. Một phụ nữ thuộc hàng thượng lưu đang bế đứa con trai vài tuần tuổi của chị, thì lần đầu tiên, chị đột nhiên thấy đứa bé cười với mình. Quá xúc động và hân hoan, chị vội đưa tay làm dấu Thánh giá. Có người hỏi tại sao chị làm vậy thì chị trả lời:

“À, cũng như một người mẹ vui mừng trước nụ cười đầu tiên của con mình, Thiên Chúa cũng vui mừng khi một người tội lỗi quỳ xuống và dâng lên Ngài lời cầu nguyện tự đáy lòng[50].”

3. Lòng thương xót của ta: lý do hay hiệu quả của lòng Chúa thương xót?

Đức Giêsu nói: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” và trong Kinh Lạy Cha, Ngài dạy ta cầu nguyện như sau: “Và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”. Ngài cũng nói: “Nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em” (Mt 6,15). Những lời này hẳn có thể khiến ta nghĩ rằng lòng thương xót của Thiên Chúa đối với ta là hiệu quả của việc ta thương xót người khác, hơn nữa, ta thương xót người khác bằng nào thì Thiên Chúa cũng thương xót ta bằng ấy. Tuy nhiên, nếu đúng như vậy, tương quan giữa ân sủng và việc lành hoàn toàn bị đảo ngược, và tính chất nhưng-không (gratuité) của lòng Chúa thương xót, mà chính Thiên Chúa đã long trọng công bố trước mặt Môsê, sẽ không còn ý nghĩa: “Ta thương ai thì thương, xót ai thì xót” (Xh 33,19).

Dụ ngôn về tên đầy tớ mắc nợ không biết thương xót (Mt 18,23 tt) chính là chìa khóa giúp ta hiểu cho đúng tương quan này. Trong dụ ngôn, ta thấy chính ông chủ đi bước trước, tha vô điều kiện một món nợ rất lớn cho người đầy tớ (10 ngàn yến vàng!). Chính sự quảng đại này của ông chủ lẽ ra phải thúc đẩy tên đầy tớ thương xót người bạn chỉ mắc nợ anh một số tiền nhỏ là 100 quan tiền.

Bởi vậy, chúng ta phải tỏ lòng thương xót  đã được Thiên Chúa thương xót, chứ không phải để được Thiên Chúa thương xót. Chúng ta phải có lòng thương xót, nếu không, lòng thương xót của Thiên Chúa không mang lại hiệu quả nào cho chúng ta. Thiên Chúa sẽ không thương xót ta nữa, như ông chủ trong dụ ngôn không còn thương xót tên đầy tớ bất nhân nữa. Ân sủng bao giờ cũng đến trước và chính nó tạo ra bổn phận. Thánh Phaolô viết cho dân Colossê: “Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3,13). Chúng ta phải tha thứ cho nhau, vì Thiên Chúa đã tha thứ cho chúng ta trước. Về sự thương xót cũng vậy.

Nếu trong Mối Phúc đang bàn, lòng thương xót của Thiên Chúa đối với ta dường như là hiệu quả của việc ta thương xót người anh em mình, chính là vì ở đây Đức Giêsu cho thấy viễn tượng về ngày chung thẩm (Họ sẽ được Thiên Chúa xót thương: động từ ở thì tương lai). “Thiên Chúa không thương xót khi xét xử kẻ không biết thương xót. Còn ai thương xót thì chẳng quan tâm đến việc xét xử” (Gc 2,13).

4. Kinh nghiệm về lòng thương xót của Thiên Chúa

Nếu lòng thương xót của Thiên Chúa là nguồn gốc mọi sự, và giúp chúng ta có thể thương xót nhau, thì điều quan trọng nhất cho chúng ta là làm mới lại kinh nghiệm của ta về lòng thương xót ấy.

Kafka là một tác giả nổi tiếng thế giới, người Tiệp Khắc, đã viết cuốn tiểu thuyết Vụ kiện (Le Procès). Ông kể chuyện về một người, một ngày kia bị người ta tuyên bố có thể bắt giữ mà không ai biết tại sao, trong khi ông sống bình thường, làm công việc của một công nhân bình dị. Ông miệt mài tìm kiếm mong khám phá ra lý do, tòa án, những lời tố cáo, thủ tục. Nhưng không ai có thể giải thích cho ông. Chỉ có một điều chắc chắn: thật sự người ta đang kiện ông. Cho tới ngày người ta sẽ tìm ông để thi hành án lệnh.

Trong vụ việc này, người ta được biết ông gặp ba tình huống có thể xẩy ra: thật sự được miễn tội, bề ngoài được miễn tội và hoãn xét. Tuy nhiên bề ngoài được miễn tội và hoãn xét không giải quyết được gì; chúng chỉ khiến cho bị cáo phải ở trong một tình trạng bấp bênh chết người trong suốt cuộc đời của ông. Ngược lại, nếu thực sự được miễn tội, “những biên bản vụ kiện phải được hủy bỏ hoàn toàn, chúng không còn trong thủ tục nữa; không những lời tố cáo, mà cả vụ kiện, ngay cả án quyết cũng hoàn toàn bị hủy.” Tuy nhiên người ta không biết liệu những miễn tội thực sự này, mà ông hằng mong mỏi, đã có ngày nào xẩy ra chưa; người ta chỉ nghe nói về chúng, chúng chỉ là những chuyện hoang đường rất hay”. Cũng như tất cả các tiểu thuyết khác của tác giả, tác phẩm kết thúc thế này: có một cái gì đó mà người ta thoáng thấy từ xa, và người ta nhọc mệt theo đuổi trong cơn ác mộng ban đêm, nhưng không bao giờ có thể nắm bắt được nó[51].

Lời Chúa loan báo cho ta một tin vui quá sức tưởng tượng là có sự miễn tội thực sự cho con người, chứ không chỉ là một chuyện hoang đường, một sự việc tốt đẹp, nhưng ngoài tầm với. Đức Giêsu Kitô đã giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi. Ngài đã “xóa sổ nợ bất lợi cho chúng ta, sổ nợ mà các giới luật đã đưa ra chống lại chúng ta. Ngài đã hủy bỏ nó đi, bằng cách đóng đinh nó vào thập giá” (Cl 2,14). Ngài đã phá hủy tất tần tật. Thánh Phaolô đã kêu lên: “Giờ đây, những ai ở trong Đức Kitô Giêsu thì không còn bị lên án nữa” (Rm 8,1). Không còn kết án nào, thuộc bất cứ loại nào, dành cho những ai tin vào Đức Giêsu Kitô!

Ở Giêrusalem có một cái hồ nước lạ lùng. Người nào nhảy xuống đầu tiên khi nước động thì sẽ được khỏi bệnh (x. Ga 5,2 tt). Nhưng ngay cả ở đây, thực tại còn lớn hơn vô vàn so với biểu tượng. Từ thập giá của Đức Kitô vọt ra một nguồn nước và máu, để mọi người, chứ không phải chỉ người đầu tiên, ngụp lặn trong đó đều được chữa lành lúc ra khỏi đó.

Sau phép Rửa thì hồ nước lạ lùng là bí tích Hòa giải. Đôi khi là chuyện tốt nếu chúng ta thực hiện một lần xưng tội “ngoại thường”, khác với những lần xưng tội quen thuộc, trong đó chúng ta để cho Chúa Thánh Thần “bắt lỗi ta về tội”.

Có một ân sủng đặc biệt, khi không chỉ từng người mà là cả cộng đồng đặt mình trước mặt Chúa với thái độ thống hối này. Sau đó chúng ta được đổi mới, tràn đầy hy vọng, nhờ có kinh nghiệm sâu sắc này về lòng thương xót của Thiên Chúa:

“Thiên Chúa giầu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta, nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Người cũng đã cho chúng ta được cùng sống với Đức Kitô” (Ep 2,4-5).

5. Một Giáo Hội “giầu lòng thương xót”

Sau khi đã có kinh nghiệm về lòng thương xót của Thiên Chúa, thì đến lượt chúng ta, chúng ta cũng phải áp dụng điều đó cho các anh em mình, trên bình diện cộng đồng Giáo Hội cũng như trên bình diện cá nhân. Khi giảng tĩnh tâm cho giáo triều Rôma dịp Năm Thánh 2000, Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, khi ám chỉ tới nghi thức mở Cửa thánh, đã nói trong một bài suy niệm:

“Tôi mơ ước một Giáo Hội là một “Cửa thánh”, mở rộng tiếp đón mọi người, đầy lòng trắc ẩn và hiểu biết trước những vất vả khổ đau của nhân loại, hoàn toàn hướng tới chỗ an ủi họ[52].”

Giáo Hội của Thiên Chúa “giầu lòng thương xót”, dives in misericordia, không thể không dives in misericordia. Từ thái độ của Đức Kitô đối với tội nhân, chúng ta rút ra một vài tiêu chuẩn. Ngài không coi tội lỗi là tầm thường, nhưng tìm ra phương tiện không những không bao giờ mất đi cảm tình của các người có tội, ngược lại còn lôi kéo họ đến với Ngài. Họ thế nào, Ngài không chỉ thấy như vậy, nhưng còn thấy họ có thể trở nên như thế nào, nếu họ để cho lòng thương xót của Thiên Chúa chạm vào họ, nơi sâu thẳm nhất của sự khốn cùng và thất vọng, mà họ đang phải chịu. Ngài không chờ họ đến với Ngài, mà thường ra Ngài đi tìm kiếm họ.

Ngày hôm nay, các nhà chú giải Kinh Thánh tương đối đồng ý với nhau thừa nhận rằng Đức Giêsu đã không có thái độ thù nghịch với luật Môsê, luật mà Ngài tuân giữ chu đáo. Điều làm Ngài chống lại giới ưu tú tôn giáo thời ấy, là một thái độ cứng nhắc nào đó, đôi khi thiếu tình người, trong cách họ giải thích luật. “Ngày sabbát được tạo nên cho con người, không phải con người cho ngày sabbát” (Mt 2,27), và điều Ngài nói về sự nghỉ ngơi trong ngày sabbát, một trong những luật thánh thiêng nhất nơi dân Israel, cũng có giá trị cho mọi luật khác.

Đức Giêsu cương quyết và nghiêm khắc trên nguyên tắc, nhưng Ngài biết khi nào thì một nguyên tắc phải nhường bước trước một nguyên tắc cao hơn, là nguyên tắc về lòng thương xót của Thiên Chúa và ơn cứu rỗi của con người. Cách thức mà những tiêu chuẩn này, rút ra từ hành động của Đức Kitô, áp dụng cụ thể cho xã hội hôm nay, tùy thuộc vào việc nhẫn nại tìm kiếm, và rốt cuộc là vào sự phân định của huấn quyền. Trong đời sống Giáo Hội, theo hình ảnh đời sống của Đức Giêsu, lòng thương xót của đôi tay và của tâm hồn, cả những việc từ thiện lẫn những “tấm lòng thương xót”, phải cùng nhau tỏa rạng.

6. “Hãy mặc lấy những tình cảm thương xót”

Lời cuối cùng về mỗi Mối Phúc phải luôn là lời có quan hệ đến với mỗi người chúng ta, thúc giục mỗi người chúng ta hoán cải và thực hành. Thánh Phaolô đã khuyên các tín hữu Colossê bằng những lời phát xuất từ đáy lòng như sau:

“Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3,12-13).

Thánh Augustinô nói: “Con người chúng ta là những bình sành làm cho nhau khó chịu[53].” Trong một gia đình hoặc bất cứ một kiểu cộng đồng nào khác, không thể sống hài hòa với nhau, nếu không biết tha thứ và thương xót nhau. Từ “thương xót” do misereor và cor hợp thành, có nghĩa là thương xót từ con tim, cảm thương trước nỗi khổ và sự lầm lạc của anh em mình. Chính theo cách ấy mà Thiên Chúa đã thương xót dân riêng lầm đường lạc lối: “Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta bồi hồi” (Hs 11,8).

Phải phản ứng bằng cách tha thứ, và trong mức độ có thể, bằng cách xin lỗi chứ không lên án. Khi là trường hợp của chúng ta, chúng ta làm cho người ta thấy giá trị của câu ngạn ngữ sau đây: “Ai không nhận mình có lỗi thì Thiên Chúa bắt lỗi người ấy”. Nhưng nếu là về người khác thì ngược lại: “Ai không bắt lỗi anh em thì Thiên Chúa không bắt lỗi người ấy ; ai bắt lỗi anh em thì Thiên Chúa bắt lỗi người ấy”.

Tha thứ trong cộng đồng giống như dầu mỡ cho động cơ. Nếu khởi hành mà không còn giọt dầu nào trong động cơ xe máy, xe sẽ nổ. Cũng như dầu, sự tha thứ làm giảm cọ xát. Dầu chúng ta phải cho vào trong bánh xe cuộc đời hệ tại đặc biệt ở những lời nói tốt đẹp. Thánh Tông Đồ khuyên người Êphêsô như thế này: “Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp để xây dựng.” (Ep 4,29) Một lời nói tốt đẹp, tức một lời nói tích cực, khuyến khích và khen ngợi, là một niềm an ủi, đặc biệt trong môi trường gia đình.

Sự thương xót nhau hẳn phải là tình cảm tự nhiên nhất có thể có, cho chúng ta là những thụ tạo con người. Thi sĩ Charles Péguy đắt nơi môi miệng Thiên Chúa những lời sau đây:

“Bác ái không làm Ta ngạc nhiên. Những thụ tạo đáng thương bất hạnh quá đến nỗi, trừ khi là một trái tim đá, làm sao lại không thể sống bác ái với nhau[54]?”

Muốn không một chút động lòng trắc ẩn, có lẽ phải che mắt, bịt tai lại, để như vậy không nhìn không nghe thấy những tiếng kêu than từ khắp nơi.

Đây có lẽ là điểm giúp cho Kitô giáo gần gũi với Phật giáo nhất. Trong Phật giáo, lòng trắc ẩn đối với mọi chúng sinh là điều làm nên “chính mệnh”, con đường này là một trong “bát chính đạo” đưa tới giác ngộ. Những lý do thay đổi từ vũ trụ tôn giáo này đến vũ trụ tôn giáo khác. Trong Kitô giáo, nền tảng là con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, là “Cha giầu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an” (2Cr 1,3), theo lời nói: “Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cứ loài nào Chúa đã làm ra” (Kn 11,24). Trong Phật giáo, nơi người ta không biết đến ý tưởng về một Thiên Chúa có ngôi vị và sáng tạo, nền tảng có tính cách nhân học và vũ trụ: con người phải có lòng thương xót vì sự liên đới và trách nhiệm liên kết họ với mọi sinh vật. Tuy vậy sự khác biệt này không ngăn cản chúng ta cùng nhau hành động trên bình diện thực tế, nhất là ngày nay, khi mà cuộc sống bị bạo lực đe dọa và những tương quan giữa con người quá nghiệt ngã và “tàn nhẫn”. Là người Kitô hữu, chúng ta phải học hỏi nhiều nơi một cuốn sách của Đức Đạt Lai Lạt Ma hiện nay, Tenzin Gyatso, người đã đề nghị một “đạo đức học bình an và chữa lành” cho thiên niên kỷ thứ ba. Từng trang một, người ta thấy lộ ra một ý thức mãnh liệt về sự liên đới và gần như sự yêu thương dịu dàng đối với mọi sinh vật, cũng như một ước muốn chuyển nhãn quan này sang lãnh vực chính trị, kinh tế và tất cả những thực tại khác của nhân sinh.

Trái đất hẳn sẽ là một nơi chào đón hơn nhiều, nếu chúng ta biết nghĩ nhiều hơn một chút đến những bất hạnh và đau khổ của người khác, và ít hơn một chút đến những bất hạnh và đau khổ của chúng ta; nếu chúng ta biết thay thế sự trắc ẩn cho mình bằng sự trắc ẩn đối với người lân cận. Đức Giêsu đã nói: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được xót thương.” Không chỉ nơi Thiên Chúa mà họ sẽ tìm thấy sự xót thương ấy trong ngày tận thế, nhưng cả ở trần gian này, nơi những người lân cận của họ.

Tôi đã sử dụng hình ảnh dầu. Có một Thánh vịnh ca ngợi nét đẹp và niềm vui được sống với nhau như những anh em được giải hòa. Thánh vịnh ấy nói rằng chính là “thứ dầu quý đổ trên đầu, xuống râu xuống cổ áo chầu Aharon” (x. Tv 133,2). Aharon của chúng ta, Vị Thượng Tế của chúng ta, chính là Đức Kitô; sự thương xót và tha thứ chính là dầu chảy từ “Đầu’ bị treo trên thập giá, lan xuống toàn thân là Giáo Hội, cho tới tận viền tua áo, tới tận những người sống bên lề Giáo Hội.

Chúng ta hãy cố gắng xác định, trong mối liên hệ của chúng ta với từng người, xem những mối liên hệ nào trong đó có vẻ chúng ta cần làm cho dầu thương xót và hòa giải thấm sâu, và đổ dầu đó không cần giữ gìn, trong thinh lặng. Nơi đâu chúng ta sống như thế, trong sự tha thứ và thương xót lẫn nhau, thì như câu kết thúc của Thánh vịnh nêu trên, nơi đó “chúng ta có ân huệ Chúa ban, chính là sự sống chứa chan muôn đời”.

VI. “PHÚC THAY AI CÓ TÂM HỒN TRONG SẠCH, VÌ HỌ SẼ ĐƯỢC NHÌN THẤY THIÊN CHÚA”

1. Từ sự trong sạch theo nghi thức đến sự trong sạch trong tâm hồn

Bất cứ ai đọc hay nghe công bố hôm nay: “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa”, theo bản năng, sẽ nghĩ ngay đến nhân đức trong sạch, như thể Mối Phúc này thực sự tương đương theo hướng nội tâm hóa với điều răn thứ VI: “Chớ làm sự dâm dục.” Cách giải thích này từng thấy lác đác trong lịch sử linh đạo Kitô giáo, đã chiếm hàng đầu từ thế kỷ XIX. Thực ra, sự trong sạch trong tâm hồn, trong ý nghĩ của Đức Kitô, không chỉ một nhân đức đặc biệt nào, nhưng là một phẩm chất luôn đi kèm mọi nhân đức, để chứng tỏ là những nhân đức thực sự, chứ không phải những “nết xấu huy hoàng”. Ngược với sự trong sạch này, trực tiếp nhất, không phải là sự không trong sạch, nhưng là sự giả hình. Một chút chú giải và lịch sử sẽ giúp chúng ta hiểu hơn.

Người ta dễ đoán ra điều Đức Giêsu muốn nói về “sự trong sạch trong tâm hồn”, khi đi từ ngữ cảnh “Bài giảng trên núi”. Theo Phúc Âm, hành động trong sạch hay không trong sạch, dù đó là bố thí, chay tịnh hay cầu nguyện, là ở ý định, nghĩa là làm hành động này cốt cho người ta thấy hay cốt làm hài lòng Thiên Chúa.

“Vậy khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo. Và cha anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.” (Mt 6,2-4)

Trong suốt cả Kinh Thánh, giả hình là tội bị Thiên Chúa tố giác mạnh mẽ. Có lý do hẳn hoi. Vì khi giả hình, con người đưa Thiên Chúa xuống hạng hai, dành chỗ nhất cho thụ tạo, cho những gì nơi công cộng. “Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng” (1Sm 16,7): coi trọng vẻ bên ngoài hơn tâm hồn có nghĩa là cho con người quan trọng hơn Thiên Chúa. Như vậy, giả hình chủ yếu là thiếu đức tin, và cũng là thiếu bác ái đối với người lân cận, vì nó có khuynh hướng coi con người chỉ là những người thán phục ca ngợi ta mà thôi. Nó không thừa nhận phẩm giá cá nhân nơi họ, nhưng chỉ nhìn họ tùy theo hình ảnh của họ.

Sự xét đoán của Đức Giêsu về thái độ giả hình là dứt khoát: Receperunt mercedem suam (họ đã có phần thưởng rồi). Mà phần thưởng này chỉ là ảo tưởng, ngay cả trên bình diện nhân loại, vì như ta biết, ai cố tìm vinh quang thì không có được nó, còn ai trốn chạy nó thì lại có được nó.

Chúng ta cũng có thể hiểu ý nghĩa của Mối Phúc dành cho những người có tâm hồn trong sạch nhờ những lời Chúa lên án mạnh mẽ các kinh sư và Biệt Phái. Tất cả những người này tập trung vào sự đối lập giữa cái “bên trong” và cái “bên ngoài” của con người:

“Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Biệt phái giả hình. Các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các ngươi cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác” (Mt 23, 27-28).

Cuộc cách mạng của Đức Giêsu trong lãnh vực này vô cùng quan trọng. Ngày nay người ta có khuynh hướng giảm nhẹ sự tương phản giữa Đức Giêsu và những người Biệt Phái, khi lưu ý rằng hai bên đồng nhất với nhau trong cách nại tới luật Môsê. Tuy nhiên chắc chắn là trước Đức Kitô, trừ một vài trường hợp mà các tiên tri hay Thánh vịnh ám chỉ (Tv 24,3: “Ai được lên núi Chúa? Đó là kẻ tay sạch lòng thanh), sự trong sạch được trình bày theo một ý nghĩa chủ yếu là nghi thức và phụng tự; hệ tại ở chỗ tránh xa những đồ vật, thú vật, con người hay nơi chốn được coi là dễ làm dơ bẩn và làm con người xa rời sự thánh thiện của Thiên Chúa. Cũng nằm trong lãnh vực này chủ yếu là những gì liên hệ đến sự sinh, sự tử, thực phẩm, tình dục. Dưới những hình thức và vì những lý do khác nhau, người ta thấy cùng một quan niệm như vậy trong những tôn giáo khác ngoài Kinh Thánh.

Đức Giêsu bãi bỏ tất cả những cấm kỵ này. Trước hết bằng những cử chỉ của Ngài: Ngài ăn uống với người tội lỗi, chạm vào người phong cùi, giao du với kẻ ngoại – tất cả những việc đó đều bị coi là biến chất ở mức cao – và cả trong nhiều lời giảng dạy của Ngài. Rồi khi nói về sạch và dơ, giọng điệu long trọng giúp cho người ta hiểu rằng Ngài ý thức về sự mới mẻ trong lời giảng dạy này như thế nào:

“Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người mà lại có thể làm con người ra ô uế được, nhưng chính cái từ con người xuất ra là cái làm cho con người ra ô uế. .. Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế” (Mc 7,15.21-23).

“Như vậy Người tuyên bố mọi thức ăn đầu thanh sạch”, tác giả Phúc Âm ngạc nhiên ghi nhận lời Đức Giêsu nói (Mc 7,19). Trước một số Kitô hữu gốc Do thái muốn phục hồi sự phân biệt giữa sạch và dơ trong đồ ăn và trong những lĩnh vực khác của đời sống, Giáo Hội thời tông đồ mạnh mẽ tái khẳng định: “Mọi sự đều trong sạch với những người trong sạch” (Tt 1,15; x. Rm 14,20).

Sự trong sạch hiểu theo nghĩa tiết dục và khiết tịnh không phải là không có trong Mối Phúc này (ta thấy khi liệt kê những gì làm dơ bẩn tâm hồn, Đức Giêsu có nói đến tà dâm, ngoại tình, trác táng); nhưng nó chỉ chiếm một chỗ hạn chế, và có thể nói được là “thứ yếu”. Đó là một lãnh vực trong số các lãnh vực khác, trong đó chỗ dành cho tâm hồn được nhấn mạnh, như khi Ngài nói rằng: “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người đó rồi” (Mt 5,28).

Thực ra, những hạn từ “trong sạch” và “sự trong sạch” (kar haros, katharores) không bao giờ được sử dụng trong Tân Ước theo nghĩa như chúng ta sử dụng ngày hôm nay, tức là không mắc tội xác thịt. Người ta sẽ sử dụng các hạn từ khác như “làm chủ mình” (enkrateia), “tiết độ” (sophrosyne), “khiết tịnh” (hagneia).

Cứ như những gì đã trình bầy thì rõ ràng, như mọi khi, người có tâm hồn trong sạch tuyệt hảo chính là Đức Giêsu. Các đối thủ của Ngài đã phải nói: “Thưa Thày, chúng tôi biết Thầy là người chân thật… vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta, nhưng theo sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa.” (Mc 12,14) Và Đức Giêsu đã có thể nói về mình như sau: “Tôi không tìm vinh quang cho mình.” (Ga 8,50)

2. Nhìn vào lịch sử

Trong chú giải của các Giáo Phụ, chúng ta nhanh chóng thấy ba chiều hướng căn bản, trong đó Mối Phúc về tấm lòng trong sạch sẽ được đón nhận và giải thích trong lịch sử tu đức Kitô giáo: hướng luân lý, hướng thần bí và hướng khổ chế. Cách giải thích theo hướng luân lý nhấn mạnh ý định ngay thẳng; hướng thần bí nhấn mạnh thị kiến về Thiên Chúa; hướng khổ chế nhấn mạnh việc chống lại những đam mê xác thịt. Giải thích tương ứng cho các hướng trên là Augustinô, Grêgoriô Nyssê và Gioan Kim Khẩu.

Trung thành với bối cảnh Phúc Âm, Augustinô giải thích Mối Phúc này theo quan điểm luân lý, như một sự từ chối “làm việc lành phúc đức cốt phô trương cho thiên hạ thấy” (Mt 6,1), tức là như một sự đon sơ, chân thành ngược với sự giả hình.

“Người đó chỉ có một tấm lòng đơn sơ, tức trong sạch, vượt lên trên các lời khen của con người ; khi làm việc thiện, người đó chỉ nhằm tìm cach làm hài lòng Đấng thấu suốt mọi tâm hồn[55].”

Yếu tố quyết định để biết có trong sạch ít nhất trong tâm hồn hay không, ở đây là ý định.

“Hành vi của ta tốt và làm hài lòng Thiên Chúa nếu ta làm mà có tâm hồn trong sạch, nghĩa là hướng về Chúa, có mục đích là tình yêu… Chúng ta xem xét không phải chính hành vi cho bằng ý định thúc đẩy hành vi ấy[56]”.

Kiểu giải thích trên đây về ý định được tiếp tục mãi trong truyền thống tu đức sau này, nhất là truyền thống Ignatiô.

Giải thích theo hướng thần bí được Grêgoriô Nyssê đề xướng, giải thích Mối Phúc nhằm phục vụ cho việc chiêm niệm. Phải thanh tẩy tâm hồn khỏi mọi liên hệ với thế gian và với điều xấu. Chỉ nhờ vậy tâm hồn con người sẽ lại trở thành hình ảnh của Thiên Chúa, tinh tuyền và trong sáng, như đã có từ ban đầu. Thụ tạo sẽ có thể “nhìn thấy Thiên Chúa” trong linh hồn mình như trong một tấm gương.

“Nếu như bạn ý thức và chú ý tẩy sạch những gì xấu xa trong tâm hồn, thì vẻ đẹp của Thiên Chúa sẽ chói sáng nơi bạn. […] Khi nhìn vào mình, bạn sẽ thấy nơi bạn Đấng mà lòng bạn mong ước, và bạn sẽ được hạnh phúc[57]”.

Ở đây, tất cả nhấn mạnh vào quy đề (apodose), nghĩa là vào kết quả được hứa ban cho Mối Phúc : có tâm hồn trong sạch chỉ là phương tiện, còn mục đích là “nhìn thấy Thiên Chúa”. Trên bình diện ngôn ngữ, người ta ghi nhận ảnh hưởng của những tư biện nơi Plotinô, mà người ta còn bắt gặp lại rõ hơn nơi thánh Basiliô[58].

Đường lối giải thích này cũng được tiếp tục trong tất cả lịch sử linh đạo Kitô giáo, qua thánh Bênađô, thánh Bonaventura và các nhà thần bí vùng sông Rhine[59]. Tuy vậy, trong một số môi trường đan viện, người ta còn thêm vào một ý tưởng mới mẻ và hay hay: ý tưởng về sự trong sạch như là hợp nhất bên trong mà người ta sẽ có được nếu chỉ muốn một sự mà thôi, “sự” này là Thiên Chúa. Thánh Bênađô viết: “Phúc cho những tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa”, như thể ngài nói: hãy thanh tẩy tâm hồn bạn, hãy vứt bỏ mọi sự, hãy là một đan sĩ tức là chỉ một mình, hãy tìm kiếm một sự duy nhất của Chúa, hãy theo đuổi sự đó (x. Tv 27,4), hãy thoát khỏi mọi sự và bạn sẽ nhìn thấy Thiên Chúa (x. Tv 46,11)[60].”

Ngược lại, giải thích theo hướng khổ chế khá lẻ loi, nơi các Giáo Phụ và các tác giả thời Trung cổ, giải thích Mối Phúc tùy theo sự khiết tịnh sẽ có ưu thế, như tôi đã nói trên, kể từ thế kỷ XIX. Thánh Gioan Kim Khẩu cho chúng ta một ví dụ rất rõ:

“Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa”. Theo Đức Giêsu Kitô, những người đó có tâm hồn trong sạch, có một nhân đức chung chung và phổ quát, không cảm thấy mình có lỗi nào, và có nhân đức khiết tịnh trổi vượt. Là vì không có nhân đức nào cần cho chúng ta hơn để đáng nhìn thấy Thiên Chúa[61]”.

Theo đường hướng này, nhà thần bí Ruysbroec phân biệt ba loại khiết tịnh hay trong sạch : trong tâm trí, nơi tâm hồn và ngoài thân xác. Mối Phúc đang bàn liên hệ đến sự khiết tịnh trong tâm hồn. Tác giả viết như sau:

“Sự khiết tịnh trong tâm hồn gom lại và tăng cường các giác quan bên ngoài, trong khi ở nội tâm, nó kiềm chế và làm chủ các bản năng thô bạo, nó kìm hãm và làm chủnhững bản năng xấu… nó khép tâm hồn lại trước những sự vật trần thế, những mồi chài phỉnh phờ, trong khi mở lòng cho những thực tại trên trời và chân lý[62]”.

Với những tầm mức trung thành khác nhau, tất cả các giải thích chính thống đều ở trong khung cảnh chân trời mới của cuộc cách mạng do Đức Kitô thực hiện, đưa tất cả diễn từ luân lý vào trong tâm hồn. Một cách nghịch lý: những người phản bội lại Mối Phúc của những người “trong sạch” (katharoi) trong tâm hồn lại chính là những người dựa vào đó mà lấy tên là những Người Trong Sạch (Cathares), với tất cả những phong trào tương tự xẩy ra trước và sau họ trong lịch sử Kitô giáo. Quả thực họ được xếp vào hạng những người đặt sự trong sạch ở chỗ tách khỏi những người và những sự vật bị coi là không trong sạch, trên bình diện nghi thức và xã hội, trong sự trong sạch bên ngoài hơn bên trong.

3. “Người có hai cuộc đời”

Như ta đã thấy: trrong ý nghĩ của Đức Giêsu, sự trong sạch trong tâm hồn tiên vàn không đối nghịch với sự không trong sạch, nhưng là với sự giả hình, dường như là một lầm lỗi rất thường thấy nơi con người, nhưng lại rất ít được xưng thú. Theo Pascal, con người ta có hai cuộc đời, một cuộc đời thật và một cuộc đời tưởng tượng dựa vào ý kiến, ý kiến của mình hay ý kiến của người khác. Chúng ta không ngừng tô điểm và bảo vệ con người tưởng tượng của mình, và lờ đi con người thật. Có được một nhân đức hay một công trạng nào, chúng ta vội làm cho người ta biết đến nó, cách này hay cách khác, để làm giầu cho con người tưởng tượng của chúng ta bằng nhân đức hay công trạng đó, dù phải mất chúng, để thêm cái gì đó cho con người tưởng tượng ấy, đến độ đôi khi chấp nhận hèn nhát để vờ là can đảm, và thậm chí hy sinh cuộc đời, miễn được người ta nói về nó[63]”.

Khuynh hướng này, như Pascal vạch rõ, rất nổi bật trong văn hóa hiện thời của chúng ta, một văn hóa bị thống trị bởi các phương tiện truyền thông đại chúng. Descartes nói: “Tôi tư duy, vậy tôi hiện hữu”; nhưng ngày nay, người ta có khuynh hướng thay thế câu ấy bằng câu: “Tôi xuất hiện, vậy tôi hiện hữu”. Từ gốc gác, từ “giả hình” được dành cho nghệ thuật sân khấu. Nó chỉ có nghĩa là đọc truyện, biểu diễn trên sân khấu. Thánh Augustinô có nhắc đến nó khi bình giải Mối Phúc của những tâm hồn trong sạch. Ngài viết: “Người giả hình là tác giả những chuyện giả tưởng, theo hình ảnh của những người đóng các vai khác nhau biểu diễn trên sân khấu[64].” Ngày nay, tất cả đều là giả tưởng trên các màn ảnh truyền hình.

Vậy gốc gác của hạn từ giúp chúng ta khám phá ra bản chất của giả hình. Giả hình là ở chỗ biến cuộc đời mình thành một sân khấu, nơi đó người ta trình diễn trước một cử tọa, ở chỗ đeo mặt nạ, không còn là mình, để trở thành một nhân vật của bản kịch. Tôi đọc đâu đó hai chuyện được làm rõ nét như sau:

“Nhân vật (personnage) không gì khác hơn là sự thoái hóa của con người (personne). Con người trần truồng tận gốc rễ, nhân vật bận đầy trang phục. Con người thích những gì xác thực và chủ yếu, nhân vật sống bằng giả tưởng và mưu mẹo. Con người tuân theo những xác tín của mình, nhân vật làm theo kịch bản. Con người thì khiêm tốn và nhẹ nhõm, nhân vật thì nặng nề và cồng kềnh.”

Tuy vậy, sự giả tưởng trong kịch nghệ chỉ là sự giả hình vô tội, vì dầu sao vẫn có sự phân biệt giữa sân khấu và cuộc đời. Không phải vì xem một vở kịch về Agamemnon (ví dụ do Augustinô đưa ra) mà khán giả tưởng diễn viên thật sự là Agamemnon. Thế mà ngày nay, người ta chứng kiến một sự kiện mới mẻ và đáng lo ngại, đó là muốn phết gôm sự chênh lệch này và biến cuộc đời thật thành một sân khấu. Đó là điều mà reality shows, chương trình đang tràn ngập các kênh truyền hình trên toàn thế giới, có tham vọng. Theo triết gia Pháp Jean Beaudrillard, từ nay khó mà phân biệt những biến cố thực sự xẩy ra với những gì mà truyền thông thuật lại. Điều xẩy ra thực với điều có thể xẩy ra lẫn lộn vào nhau.

Lời nhắc nhở về nội tâm, điều làm rõ nét Mối Phúc của chúng ta, cũng như toàn bộ Bài giảng trên núi, là một lời mời gọi đừng chạy theo khuynh hướng tìm cách thanh lọc con người, biến con người thành một hình ảnh, hoặc, tệ hơn, thành một ảo ảnh. Kierkegaard cho thấy sự vong thân là kết quả của một cuộc sống thuần túy bên ngoài, luôn luôn và chỉ sống trước mặt người khác chứ không bao giờ đối diện với Thiên Chúa và với chính mình. Một anh chăn bò có thể là một ông chủ đối với đàn bò của mình, nếu anh luôn sống với chúng và chỉ đối chiếu mình với chúng, Một ông vua có thể là một “cái tôi” đối với thần dân của mình, và thấy mình là một “cái tôi” quan trọng. Cũng vậy là đối với con cái trong tương quan với cha mẹ chúng, đối với công dân trước Nhà Nước…Nhưng đó luôn là một “cái tôi” bất toàn vì thiếu cái làm chuẩn.

“Bù lại “cái tôi” có được một thực tại vô biên biết bao, khi nó ý thức mình hiện hữu trước Thiên Chúa và khi nó trở thành một “cái tôi” nhân bản từ đó mà Thiên Chúa cấu tạo nên chuẩn mực…Nét nhấn vô biên biết bao đặt trên “cái tôi” khi nó có được Thiên Chúa làm chuẩn mực[65]!”

Người ta hẳn nói một lời bình giải về câu ngạn ngữ này của thánh Phanxicô Assisi:

“Con người là thế nào trước mặt Thiên Chúa, thì là thế ấy, không hơn[66].”

4. Một loại giả hình tập thể

Người ta thường làm nổi bật tầm quan trọng về phương diện xã hội và văn hóa của Mối Phúc này. Không hiếm những câu như: “Phúc cho những ai xây dựng hòa bình” trên các bảng khẩu hiệu mà những đoàn tuần hành của nhóm người chủ hòa mang theo, và Mối Phúc của những người hiền lành được viện dẫn để ủng hộ thái độ bất bạo động. Tuy vậy, người ta không bao giờ nói đến tầm quan trọng về phương diện xã hội của Mối Phúc dành cho những tâm hồn trong sạch, một mối phúc dường như chỉ dành đích danh cho lãnh vực cá nhân. Dầu vậy tôi xác tín là Mối Phúc này, ngày hôm nay, có thể thực hiện một chức năng phê phán trong số những phê phán cần thiết nhất của xã hội chúng ta.

Có những sự giả hình cá nhân và những sự giả hình tập thể. Tôi muốn vach rõ một hình thức giả hình tập thể trong đó chúng ta ngập tới cổ. Trái với nghỉa thông thường của hạn từ, đây là một sự giả hình không ở chỗ phủ kin, nhưng là mở ra; không ở chỗ che giấu, nhưng là vạch ra. Tôi nói về sự phô bầy thân xác con người, đặc biệt thân xác phụ nữ, được trình bầy như nghệ thuật, như thú vui thẩm mỹ và như vượt qua những cấm kỵ, trong khi nó chỉ đáp ứng với lợi nhuận thương mại và thị hiếu của khán giả, khác với cái người ta thấy trong nghệ thuật – cái thật, chẳng hạn như tranh của Botticelli.

Hiện tượng này đặc biệt thấy rõ ở Ý. Lâu trước đây, một nhật báo Anh có uy tín, tờ Financial Times, đã mở một mục có tựa đề “Naked Ambition” (tham lam khỏa thân). Đó là lời tố giác thói tục của người Ý phô trương phụ nữ khỏa thân theo đủ cách và nhằm bất cứ mục đích nào. Người ta đọc thấy ở đó tất cả những thiếu nữ Ý đều muốn làm những “bản sao”, Người ta tự hỏi phong trào nữ quyền, một phong trào đã đề ra cuộc tranh đấu chống lại khuynh hướng trọng nam khinh nữ, giản lược người phụ nữ chỉ còn ở thân xác và giới tính của họ, phong trào ấy đang ở đâu trên đất Ý?

Nếu lời tố cáo trên đây là của các Giám mục Ý, chẳng ai cần quan tâm, nhưng vì phát xuất từ một nhật báo có uy tín ở Anh, người ta chứng kiến một loạt các bình giải tự phê và những lưu ý trong phần đông các cơ quan báo chí. Báo Corriere della Sera (một nhật báo Ý) có một bài dành cho vấn đề, kết thúc bằng suy nghĩ như sau:

“Cả thế giới quan sát và cười nhạo chúng ta, và những phương tiện truyền thông của chúng ta không biết vấn đề: phải có một tờ báo ngoại quốc nhắc cho chúng ta điều ấy. Nước Ý thường chỉ trích thế giới Ả rập và Hồi giáo, nhưng khi nhìn vai trò của phụ nữ trong các phương tiện truyền thông, trong chính trị, người ta nói: À không, đó là chuyện khác.”

Người ta đã phân tích nhiều về hiện tượng này. Tất cả đều đồng ý vạch rõ rằng trách nhiệm chính thuộc về những người đang tiếp tục hành quyền trên phụ nữ, hóa trang cho hiện tượng dưới lớp vỏ là khâm phục có tính thẩm mỹ. Trong nhật báo lớn khác của Ý, tờ La Republica, một phụ nữ than phiền là, thay vì đánh giá cao hai bằng tiến sĩ của bà và sự đào tạo chuyên nghiệp như bà cho thấy, các đồng nghiệp lại quý mến bà ở những chuyện khác…Tất cả đều đúng thôi, nhưng cũng phải gán một phần trách nhiệm cho chính các phụ nữ. Cái mà đàn ông nhìn ở phụ nữ cũng tùy thuộc vào cái mà họ cho đàn ông thấy về họ (những năm qua thì đặc biệt là lỗ rốn!) Người ta thấy lời Thiên Chúa nói với bà Evà được thực hiện: “Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi, và nó sẽ thống trị ngươi.” (St 3,16). Chúng ta đang đứng trước một hình thức thống trị và khai thác phụ nữ, không biết là hình thức thứ mấy (bất hạnh thay lại là thống trị và khai thác về phương diện nhục dục).

Giờ đây tôi tưởng nên cắt nghĩa vì sao tôi đã xác định tất cả những chuyện đó như một hình thức giả hình tập thể. Bởi vì người ta đã dán nhãn một sự vô tội vô tư hoàn toàn sai lầm. Ai nấy dường như lặp đi lặp lại: “Sự dữ ở đâu vậy?” trong khi mọi người biết rõ có một sự dữ và là sự dữ nào. Nếu giả hình là che giấu những điều kiện thực sự đàng sau những vẻ ngoài giả tạo, thì đó chính là sự giả hình đẹp đẽ và tốt lành, hoặc nơi đàn ông, hoặc nơi đàn bà.

Người ta cũng nói về sự giả hình từ một khía cạnh khác. Bởi vì nó biến các thiếu nữ thành những “bản sao”, thành dáng vẻ bên ngoài, thành những thụ tạo không hồn, chỉ có giá trị như chúng có trước mắt người khác. Não trạng lan rộng theo cách này nơi những người trẻ gây chết người. Ý tưởng len lỏi nơi những người mà, để thành công trong cuộc sống, chuyên chú học tập, chấp nhận những hy sinh cần thiết để có được sự chuẩn bị chuyên môn tốt đẹp, học ngôn ngữ…đều không cần thiết. Nếu có thể thì chỉ cần lợi dụng thân xác mình là đủ, để sang một bên những đắn đo lo ngại. Than ôi, cuộc sống sẽ nhanh chóng nhận trách nhiệm cho họ thấy một ghi dấu: ngay sau khi thân xác và tuổi trẻ của họ tàn héo, nhiều thanh niên thiếu nữ thấy mình chỉ có một mình và không được chuẩn bị để đối mặt với cuộc sống. Thảm kịch xẩy ra hàng ngày.

Chỉ có một cách cụ thể chống lại mốt này: phá ngầm những sản phẩm và chương trình chiếu trên truyền hình, vồn sống bằng việc buôn bán thân xác phụ nữ. Hãy ra dấu cho các nhân viên quảng cáo và những linh hoạt viên của chương trình talk show rằng chúng ta đã chán hiện tượng này, hiện tượng khiến chúng ta trở thành trò cười trước mắt toàn thể thế giới, chưa kể, tất nhiên, chúng ta bị quở trách trước mặt Thiên Chúa. Phải chăng người ta khuyến khích phá hoại các nhà máy bán những vũ khí hay những thực phẩm pha chế, lấy lý do không có gì khác để làm đối với những người không biết chính những nguồn gốc sự sống? Nếu chúng ta không làm, tất cả chúng ta đều chịu trách nhiệm.

5. Sự giả hình tôn giáo

Khi nói về sự giả hình thì điều tệ hại nhất chính là chỉ dùng nó để xét đoán người khác, phê phán xã hội, văn hóa, thế giới. Đức Giêsu gọi những con người như thế là giả hình:

“Hỡi kẻ đạo đức giả ! Lấy cái xà ra khỏi mắt anh trước đã, rồi anh sẽ thấy rõ, để lấy cái rác ra khỏi mắt người anh em” (Mt 7,5).

Là người tín hữu, chúng ta cần nhắc lại lời của một giáo trưởng Do thái sống vào thời Đức Giêsu. Ông quả quyết ở Giêrusalem lúc đó có đến 90% sự giả hình của thế giới[67]. Sự giả hình đánh lừa đặc biệt những người sống thánh thiện, đạo đức. Lý do đơn giản thôi: nơi nào đặc biệt coi trọng các giá trị tinh thần, nhân đức (hoặc chính thuyết!) thì cám dỗ bày tỏ những giá trị ấy càng lớn, để chứng tỏ mình không thiếu các giá trị ấy. Đôi khi chính chức năng riêng của ta thúc đẩy ta làm như thế. Thánh Augustinô viết:

“Vậy, một vài nhiệm vụ trong xã hội loài người đòi hỏi chúng con phải được yêu thương và kính sợ, kẻ thù của hạnh phúc thật luôn theo dõi chúng con, và gài bẫy khắp nơi bằng những tiếng thúc giục: “Cố lên, can đảm lên”! Nó muốn lòng tham lam thu tích làm chúng con bị lừa; nó muốn niềm vui của chúng con di chuyển và rời bỏ sự thật của Chúa để bám chặt vào những lời dối trá của con người; nó muốn chúng con thích được yêu mến và kính sợ, không phải vì Chúa, mà là thay cho Chúa[68].”

Sự giả hình độc hại nhất hẳn là che giấu… sự giả hình của mình. Trong các bản xét mình, tôi không nhớ đã tìm thấy câu hỏi: Tôi có đã sống giả hình không? Tôi có để tâm xem người khác nhìn tôi hơn là Thiên Chúa nhìn tôi không? Vào lúc nào đó trong đời, chính tôi phải đưa những câu hỏi này vào trong bản xét mình của tôi và ít khi tôi có thể bước qua câu hỏi sau mà thấy mình vô sự…Một hôm, đoạn Phúc Âm đọc trong Thánh lễ là dụ ngôn các nén bạc. Khi nghe, tôi đột nhiên hiểu ra một chuyện. Giữa việc có thể làm cho các nén bạc sinh lợi và không làm cho chúng sinh lợi, có thể có một cách thứ ba: làm chúng sinh lợi cho mình, chứ không phải cho chủ, cho vinh quang riêng của mình hay cho lợi lộc cá nhân. Việc này có lẽ là một tội nghiêm trọng hơn chôn giấu các nén bạc. Hôm đó lúc chịu lễ, tôi đã phải làm như tên trộm bị bắt quả tang, quá xấu hổ, móc hết túi ra và vất xuống chân chủ nhà tất cả những gì đã lấy trộm.

Đức Giêsu đã để lại cho chúng ta một phương thế đơn sơ và đặc biệt, để điều chỉnh những ý định của ta nhiều lần trong ngày. Đó là đọc ba lời xin đầu trong kinh Lạy Cha: “Nguyện danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.” Có thể đọc như những lời nguyện xin, mà cũng có thể là cách nói lên ý định của chúng ta, tức là: mọi việc tôi làm, tôi muốn làm để Danh Chúa được cả sáng, Nước Chúa trị đến, Ý Chúa thể hiện.

Hẳn là một sự góp phần quý giá cho xã hội và cho cộng đồng Kitô giáo, nếu Mối Phúc của những tâm hồn trong sạch gìn giữ sống động trong ta hoài niệm về một thế giới trong sạch, chân thực, thành thật không giả hình, tập thể cũng như cá nhân, ngoài đời cũng như trong đạo; một thế giới trong đó hành động tương ứng với lời nói, lời nói tương ứng với tư tưởng, tư tưởng của con người tương ứng với tư tưởng của Thiên Chúa.

Điều này sẽ chỉ xẩy ra viên mãn tại Giêrusalem thiên quốc, thành thánh tất cả đều được làm bằng kính, mà chúng ta it nhất phải hướng tới. Một tác giả viết ngụ ngôn đã viết một câu truyện có tựa đề “Đất nước bằng kính”. Tác giả kể truyện một đứa trẻ nhờ ma thuật mà tới được một đất nước toàn bằng kính: nhà cửa bằng kính, chim chóc bằng kính, cây cối bằng kính, con người đi lại như những bức tượng kính yêu kiều. Tuy vậy, bất kể lúc nào kính này không bao giờ vỡ, vì ai nấy đều học cách di chuyển rất tinh tế, để không gây tai họa cho nhau. Khi gặp nhau, người này trả lời trước khi người kia hỏi, vì ngay cả ý tưởng cũng trở nên trong suốt và rõ ràng. Kính mà! Không ai dám nói dối ai vì biết rằng người này có thể đọc được tư tưởng của người kia[69].

Điều này mà xẩy ra với chúng ta hôm nay thì đáng lo quá. Thế nhưng, ít nhất hướng tới một lý tưởng như thế cũng là điều bổ ích. Đó là con đường đưa tới Mối Phúc mà chúng ta đang cố gắng bình giải: “Phúc cho những ai có tâm hồn trong sạch, vì sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.”

VII. “PHÚC THAY AI XÂY DỰNG HÒA BÌNH, VÌ HỌ SẼ ĐƯỢC GỌI LÀ CON THIÊN CHÚA”

1. Ai là người xây dựng hòa bình?

Mối Phúc thứ bẩy có thể thức như sau: “Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa”. Cùng với Mối Phúc của những người thương xót, đây là Mối Phúc duy nhất không nói về những người “là” (nghèo khó, sầu khổ, hiền lành, có tâm hồn trong sạch) mà là những người “làm”. Hạn từ eirenopoioi chỉ những người hoạt động cho hòa bình, “xây dựng hòa bình”. Tuy vậy, không theo nghĩa họ hòa giải với kẻ thù cho bằng theo nghĩa họ giúp các người thù nghịch hòa giải với nhau.

“Đây là những người yêu chuộng hòa bình nên không sợ liên lụy đến sự bình an của cá nhân họ khi can thiệp vào những cuộc tranh chấp, để thiết lập hòa bình giữa những người đang chia rẽ nhau[70].”

Kiểu nói “người xây dựng hòa bình” không đồng nghĩa với người “hiếu hòa” (pacifique), tức người yên lặng, bình thản, tránh tranh chấp ngần nào có thể (người này được công bố là có phúc qua một Mối Phúc khác, Mối Phúc của những người hiền lành). Nó cũng không đồng nghĩa với người “chủ hòa” (pacifiste), nếu qua hạn từ này người ta hiểu về những người chống chiến tranh (nói rõ hơn chống một trong những lực lượng đang có mặt!), nhưng không làm gì để giúp các bên tham chiến hòa giải. Hạn từ chính xác nhất hẳn là “người dẹp yên” (pacificateur).

Vào thời Tân Ước, người dẹp yên này là các hoàng đế, khởi đầu là hoàng đế Rôma. Quả thực, trong sự nghiệp của mình, hoàng đế Augustô vẫn tự phụ đã thiết lập hòa bình trên toàn thế giới, nhờ những chiến thắng quân sự (parta victoriis pax). Ông đã cho lập ở Rôma một Ara Pacis nổi tiếng, bàn thờ hòa bình.

Một số người cho rằng Mối Phúc Tin Mừng chống lại sự tự phụ này khi cho biết ai là những người xây dựng hòa bình và hòa bình này được cổ võ bằng cách nào: bằng những chiến thắng, đúng vậy, nhưng là chiến thắng chính mình chứ không phải chiến thắng kẻ thù, không phải bằng cách tiêu diệt kẻ thù, nhưng tiêu diệt sự thù nghịch, như Đức Giêsu đã làm trên thập giá (Ep 3,16). Tuy nhiên ngày nay, ý tưởng chủ lực là đọc Mối Phúc trong tương quan với toàn bộ Kinh Thánh và với các nguồn Do thái. Một trong những việc chính chứng tỏ lòng thương xót là giúp các bên tranh chấp hòa giải với nhau và chung sống hòa bình. Trên môi miệng Đức Kitô, Mối Phúc của những người xây dựng hòa bình phát xuất từ giới răn mới dạy yêu thương nhau; nó là một cách thể hiện tình yêu đối với người lân cận.

Người ta ngạc nhiên khi nghe từ chính môi miệng Đức Kitô một lời quả quyết dường như ngược lại điều trên đây: “Anh em tưởng Thày đến để ban hòa bình cho trái đất sao ? Thày bảo cho anh em biết : không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ.” (Lc 12,51). Nơi Matthêu, thay cho “sự chia rẽ” là một lời thẳng thừng: “gươm giáo” (Mt 10,34). Tuy vậy, đó thực sự không phải là một mâu thuẫn. Phải xem đâu là sự bình an và hợp nhất mà Đức Giêsu đem đến, đâu là sự bình an và hợp nhất mà Ngài đến cất bỏ. Ngài đem đến sự bình an và hợp nhất trong sự lành, thứ bình an đưa tới sự sống vĩnh cửu; Ngài đến cất bỏ sự bình an giả tạo chỉ ru ngủ lương tâm và đưa tới hoang tàn.

Đức Giêsu không đến với ý định đem lại chia rẽ và chiến tranh. Dầu vậy, chính vì Ngài đến mà có những chia rẽ và tranh chấp không tránh được, vì Ngài đặt con người trước lựa chọn của họ. Thế mà, cứ như ta biết, khi cần lựa chọn thì sự tự do của con người phản ứng cách khác nhau. Lời nói và ngay cả con người của họ làm hiện lên trên khuôn mặt những gì ẩn giấu trong lòng. Khi ẵm con trẻ Giêsu, ông già Simêon đã tiên báo: “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng, và như vậy, những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra.” (Lc 2,34-35) Nạn nhân đầu tiên của sự chống báng này, người đầu tiên chiu khổ vì “gươm giáo” mà Ngài đem đến cho trái đất, sẽ chính là người, trong sự tương phản này, sẽ đem lại cho chúng ta sự sống.

2. Sứ điệp của Ngày thế giới cầu nguyện cho hòa bình

Người ta hẳn có thể nói Mối Phúc của những người xây dựng hòa bình dành đặc biệt cho Giáo Hội Rôma cùng với Giám mục của mình. Một trong những việc cao quý nhất mà Tòa Thánh làm cho các Kitô hữu, trong những thời điểm tốt đẹp nhất của mình, là thực sự tìm kiếm sự bình an giữa các Giáo Hội khác nhau, thậm chí, trong một số thời kỳ, giữa các ông hoàng Kitô hữu. Tông thư đầu tiên của một Giáo hoàng, tức Tông thư của thánh Clêmentê I, đã viết vào khoảng năm 96 sau Đức Giêsu Kitô (có lẽ trước cả Phúc Âm thứ tư) có mục đích loan báo sự bình an trong Giáo Hội Corintô, một Giáo Hội đã bị xâu xé vì những bất hòa.

Lịch sử Giáo Hội chứng kiến nhiều thời kỳ mà các Giáo Hội địa phương, các Giám mục hay tu viện trưởng bất hòa với nhau hay với đàn chiên của mình, và đã nại tới Đức Giáo hoàng làm trung gian hòa giải. Tôi tin rằng ngay cả ngày hôm nay, đó là một trong những dịch vụ thường xuyên nhất dành cho Giáo Hội toàn cầu, cho dù là một dịch vụ ít được biết đến nhất. Chính sách ngoại giao của Vaticanô, các sứ thần Tòa thánh là những dụng cụ phục vụ hòa bình. Thừa tác vụ này của các ngài được mọi người thừa nhận. Muốn biết cái giá của dịch vụ này, chỉ cần nhìn vào những khó khăn xẩy ra khi không có dịch vụ này.

Từ ít lâu nay, việc phục vụ của Đức Giáo hoàng trong lãnh vực hòa bình cũng được thể hiện qua sứ điệp của Ngày thế giới cầu nguyện cho hòa bình, trùng với ngày 1 tháng 1 mỗi năm. Tôi muốn sử dụng sứ điệp ngày 1/1/2007, để suy niệm về Mối Phúc của chúng ta[71]. Đây là một sứ điệp về hòa bình trong mọi lãnh vực, từ lãnh vực cá nhân đến lãnh vực rộng lớn hơn là chính trị, kinh tế, môi sinh, những tổ chức quốc tế. Đó là những lãnh vực khác nhau, nhưng liên kết với nhau, vì tất cả đều có đối tượng đầu tiên là nhân vị. Do đó mà sứ điệp có tựa đề: “Nhân vị, trọng tâm của hòa bình.”

Trong sứ điệp này, chúng ta thấy một xác quyết nền tảng như chìa khóa giúp đọc cả bản văn:

“Hòa bình là một quà tặng mà cũng là một trách nhiệm, Nếu đúng là hòa bình giữa các cá nhân và giữa các dân tộc – khả năng sống bên cạnh nhau với những tương quan công bằng và liên đới – biểu thị một sự dấn thân không ngungu nghỉ, thì cũng đúng, và còn đúng hơn, là hòa bình là một quà tặng của Thiên Chúa. Quả thực, hòa bình là một nét đặc trung trong hành động của Thiên Chúa, được bày tỏ cả trong việc sáng tạo một thế giới trật tự và hài hòa, lẫn trong việc cứu độ nhân loại, một nhân loại cần được chuộc lại cho khỏi hỗn loạn vì tội lỗi. Vậy sáng tạo và cứu chuộc cho chúng ta chìa khóa để đọc, giúp hiểu biết ý nghĩa cuộc sống của chúng trên trái đất[72].”

Những lời trên đây giúp chúng ta hiểu Mối Phúc của những người xây dựng hòa bình, và lời sau cùng soi sáng đặc biệt bản văn này. Chúng ta sẽ suy niệm về hòa bình như một quà tặng và như một trách nhiệm

3. Hòa bình là một quà tặng

Chính Thiên Chúa, chứ không phải con người, là Đấng xây dựng hòa bình chính thực và tối cao.

Vì vậy mà những ai hết mình cho hòa bình được gọi là “con Thiên Chúa”, vì họ giống Người, bắt chước Người, làm những gì Người làm. Sứ điệp của Đức Giáo hoàng nói rằng hòa bình là nét đặc trưng trong hành động của Thiên Chúa trong việc Sáng tạo và Cứu chuộc, tức là cả trong hành động của Thiên Chúa lẫn trong hành động của Đức Kitô.

Kinh Thánh nói về “bình an của Thiên Chúa” (Pl 4,7) và còn nói thường xuyên hơn về “Thiên Chúa là nguồn bình an” (Rm 15,33). Bình an ở đây không những chỉ điều Thiên Chúa làm hay ban, mà còn cho thấy Thiên Chúa  sự bình an.

Hầu như mọi tôn giáo đồng thời với Kinh Thánh tin vào một thế giới thần linh trong đó các vị thần luôn tranh chấp với nhau. Các thần thoại về nguồn gốc vũ trụ ở Babylon và Hy lạp nói về các thần gây chiến với nhau. Trong lạc thuyết ngộ đạo Kitô giáo, không có hiệp nhất và bình an giữa các thần trên trời, và sự hiện hữu của thế giới vật chất chỉ là kết quả của một vụ rắc rối và một sự bất hòa xẩy ra trên thiên giới.

Trên nền tảng tôn giáo như vậy, người ta có thể hiểu rõ hơn nét độc đáo mới mẻ trong giáo lý về Ba Ngôi, chỉ có một tình yêu hoàn hảo trong ba Ngôi vị. Trong thánh thi dâng kính Ba Ngôi, Giáo Hội gọi Ba Ngôi là “đại dương bình an êm ả”, và đây không chỉ là cách diễn tả của thi phú. Khi chiêm ngắm bức icône Ba Ngôi nổi tiếng của Rublev, điều gây ấn tượng nhất chính là cảm giác về sự bình an của thiên giới tỏa ra từ bức tranh. Bằng hình ảnh, họa sĩ đã diễn tả khẩu hiệu của thánh Serge de Radonège, mà bức ảnh được vẽ dành cho đan viện của ông: “Chiến thắng sự chia rẽ đau lòng của thế giới này bằng việc chiêm ngắm Ba Ngôi chí thánh”.

Người ca ngợi hay nhất sự bình an của Thiên Chúa đến từ phía bên kia của Lịch sử, là một Giáo Phụ Hy lạp (Denys l’Aréopagite). Theo ngài, sự bình an là một trong những “danh hiệu của Thiên Chúa”, ngang với “tình yêu”[73]. Đức Kitô cũng được gọi “là sự bình an của chúng ta” (Ep 2,14-17). Khi nói với các môn đệ “Thày ban sự bình an của Thày cho anh em”, Đức Giêsu chuyển đạt cho chúng ta điều mà chính Ngài là.

Có một mối tương quan chặt chẽ giữa bình an như quà tặng của Đấng ngự trên cao và Chúa Thánh Thần. Không phải vô lý mà cả hai được biểu thị bằng hình chim bồ câu. Buổi chiều ngày Phục Sinh, Đức Giêsu đã ban cho các môn đệ cả sự bình an lẫn Chúa Thánh Thần hầu như bằng một hơi thở duy nhất: “Bình an cho anh em” […] Nói xong Ngài thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20,21-22). Theo thánh Phaolô, bình an là một “hoa quả của Thần Khí” (Gl 5,22).

Nhưng sự bình an mà chúng ta nói là sự bình an nào? Định nghĩa mà thánh Augustinô đưa ra đã trở thành cổ điển: “Bình an là một trật tự yên hàn[74].” Dựa trên câu này, thánh Tôma cho rằng nơi con người có ba mẫu trật tự: với chính mình, với Thiên Chúa và với người lân cận. Do đó có ba hình thức bình an: bình an nội tâm, qua đó con người sống bình an với chính mình; bình an qua đó con người sống bình an với Thiên Chúa và hoàn toàn tuân phục thánh ý Ngài; và bình an liên hệ với người lân cận của mình, qua đó người ta sống bình an với mọi người[75].

Tuy nhiên, trong Kinh Thánh, chữ shalom, “hòa bình”, đi xa hơn trật tự yên hàn thuần túy. Nó còn nói lên sự thoải mái, nghỉ ngơi, an ninh, thành công, vinh quang. Đôi khi nó chỉ toàn bộ thiện ích của thời kỳ cứu thế, và khi đó nó sẽ đồng nghĩa với ơn cứu độ: “Đẹp thay trên đồi núi bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an, loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ” (Is 52,7). Giao ước mới được gọi là “giao ước bình an” (Ed 37,56), Phúc Âm được gọi là “Tin Mừng bình an” (Ep 6,15), như thể chữ “bình an” thâu tóm tất cả nội dung của Giao Ước và Phúc Âm.

Trong Cựu Ước, hòa bình thường sóng đôi với “công lý” (Tv 85,11) “Hòa bình và công lý giao duyên”, còn trong Tân ước thì sóng đôi với “ân sủng”. Khi thánh Phaolô viết: “Một khi đã được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa” (Rm 5,1), rõ ràng “được bình an với Thiên Chúa” có cùng một ý nghĩa hàm súc như “trong ân sủng của Thiên Chúa”.

4. Hòa bình là một trách nhiệm

Đức Thánh Cha nói với chúng ta rằng hòa bình là một quà tặng mà cũng là một trách nhiệm. Mối Phúc của những người xây dựng hòa bình nói cho chúng ta trước tiên về hòa bình như một trách nhiệm. Nếu Thiên Chúa và, trên bình diện lịch sử, Đức Kitô phục sinh, là nguồn mạch đích thực của sự bình an Kitô giáo, làm người xây dựng hòa bình không có nghĩa là phát minh hay tạo ra sự bình an, nhưng chuyển đạt nó, để sự bình an của Thiên Chúa và sự bình an của Đức Kitô đi qua, một sự bình an “vượt quá mọi trí khôn”, “Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giêsu Kitô ban cho anh em ân sủng và bình an.” (Rm 1,7) Đó là sự bình an mà vị Tông Đồ chuyển đạt cho các Kitô hữu ở Rôma. Chúng ta không phải là nguồn mạch, nhưng chỉ là máng chuyên sự bình an. Phanxicô Assisi diễn tả điều đó cách hoàn hảo trong lời kinh được gán cho ngài: “Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa” (*)

Điều kiện để có thể trở thành một máng chuyên bình an là phải kết hợp với nguồn mạch là chính ý muốn của Thiên Chúa. Trong tác phẩm Thần Khúc (Divina Commedia), thi sĩ Dante đã đặt vào miệng một linh hồn đang trong chốn Luyện ngục câu nói: “Bình an của chúng ta ở trong ý muốn của Thiên Chúa”. Bí mật của bình an nội tâm là phó thác hoàn toàn và không ngừng đổi mới cho ý muốn của Thiên Chúa. Để có thể gìn giữ hay tìm lại được sự bình an nội tâm này, chỉ cần chúng ta cùng với thánh nữ Têrêxa Avila thường xuyên lặp lại cho chúng ta:

“Ước mong không gì làm bạn bối rối, không gì làm bạn sợ hãi. Tất cả qua đi. Thiên Chúa còn lại. Nhẫn nại cho phép mọi sự. Ai ở trong Thiên Chúa sẽ không thiếu thốn gì. Chỉ mình Thiên Chúa là đủ”.

Lời các Tông đồ khuyến khích làm điều thiện bao gồm rất nhiều chỉ dẫn thực hành về những gì cổ võ hay ngăn cản sự bình an. Một trong những đoạn văn nổi tiếng nhất là ở trong thư Giacôbê:

“Thật vậy, ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa. Đức Khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hòa, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình. Người xây dựng hòa bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hòa bình, là cuộc đời công chính” (Gc 3,16-18).

Mọi nỗ lực xây dựng hòa bình phải đến từ môi trường rất cá nhân này. Sự bình an giống như lằn của một con tầu trải rộng tới vô tận, nhưng khởi sự từ một điểm, và ở đây, điểm này là tâm hồn con người. Một trong những sứ điệp cho Ngày thế giới cầu nguyện cho hòa bình, sứ điệp năm 1984, có tựa đề: “Hòa bình phát sinh từ một tâm hồn mới.”

Có một khẩu hiệu rất thời thượng hiện nay: “Suy nghĩ ở tầm mức toàn cầu, hành động ở tầm mức địa phương” (Think globally, act locally). Có thể áp dụng khẩu hiệu này cho hòa bình. Phải nghĩ tới hòa bình trên thế giới, nhưng xây dựng hòa bình ở địa phương (vì thực ra có muốn góp phần xây dựng hòa bình trên thế giới, thì điều đó cũng vượt ra ngoài khả năng và tầm tay của chúng ta). Hòa bình không được tạo ra như chiến tranh. Chiến tranh cần có sự chuẩn bị lâu dài: về quân đội, vũ khí, chiến lược, tìm kiếm đồng minh. Xây dựng hòa bình thì ngược lại: bắt đầu ngay, thậm chí có khi chỉ một mình, và chỉ bằng cái bắt tay. Cũng như hàng tỉ giọt nước mặn không thể tạo ra một đại dương nước ngọt, thì hàng tỉ người và gia đình bất thuận với nhau không bao giờ có thể tạo thành một nhân loại hòa bình.

Đức Giêsu đến loan báo “bình an cho người ở xa, bình an cho kẻ ở gần” (Ep 2,17). Làm sao chúng ta có thể coi mình là người cổ võ hòa bình ở xa, nếu sau đó chúng ta quay ra tranh cãi với nhau? Hãy nhớ lại những lời nghiêm khắc của Phaolô khi ngài nói với giáo đoàn Corintô:

“…nhân danh Đức Giêsu Kitô…tôi khuyên tất cả anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hòa thuận, một lòng một ý với nhau. Thật vậy…người nhà của bà Khơlôê cho tôi hay tin có chuyện bè phái giữa anh em. Tôi muốn nói là trong anh em có những luận điệu như : tôi thuộc về ông Phaolô, tôi thuộc về ông Apollô, tôi thuộc về ông Kêpha, tôi thuộc về Đức Kitô. Thế ra Đức Kitô đã bị chia năm sẻ bẩy rồi ư? Có phải Phaolô đã chịu đóng đinh vào khổ giá vì anh em chăng?” (1 Cr 1,10-13).

Sách Công vụ phác họa cho ta kiểu mẫu cộng đồng tín hữu đầu tiên, một cộng đồng thực sự là huynh đệ, hòa thuận, thương yêu nhau: “các tín hữu đông đảo mà chỉ có một lòng một ý” (Cv 2,32). Tuyệt vời! Chắc chắn họ được như vậy là nhờ Chúa Thánh Thần. Đây cũng là trường hợp của nhóm các Tông đồ. Trước lễ Ngũ Tuần, các ông chưa có một lòng một ý với nhau đâu, trái lại, thường tranh luận với nhau xem ai là người lớn nhất trong nhóm, ai được ngồi bên tả bên hữu Đức Giêsu. Chúa Thánh Thần hiện xuống đã hoàn toàn biến đổi các ông.

Những khuôn mẫu như vậy giờ đây không còn nữa, hoặc nếu còn thì rất hiếm. Có chăng là đạt tới một trình độ tương đối nào đó thôi. Ngay trong một cộng đồng nhỏ cũng có nhiều đối kháng, về phương diện này hay phương diện khác của đời sống, làm giảm sút, thậm chí làm mất đi, sự bình an và hiệp nhất.

Trong đời sống, nhất là đời sống chung, nếu không làm được những hành vi tích cực nhằm xây dựng hòa bình, thì ít nhất cố tránh những hành vi tiêu cực phá vỡ sự bình an.

Có một câu châm ngôn cổ (của Augustinô?) được Đức Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII sử dụng trong Thông điệp Ad Petri Cathedram, ngẫm nghĩ thấy còn rất hợp thời. Câu ấy như sau: “Trong những gì cần thiết thì có sự hiệp nhất, trong những gì hồ nghi thì có tự do, còn trong mọi sự thì có bác ái” (In necessariis unitas, in dubiis libertas, in omnibus vero caritas). Thiết tưởng người muốn xây dựng hòa bình trong cộng đồng mình sống không thê không lưu ý đến lời dạy trên đây.

Có một cách khác giúp cho người xây dựng hòa bình, cách duy nhất mà ai nấy đều có thể và phải nại tới, đó là cầu nguyện cho hòa bình. Mỗi ngày đầu năm dương lịch, Ngày thế giới cầu nguyện cho hòa bình, phải là dịp nhắc nhở cho chúng ta bổn phận này. Trong các sứ điệp dành cho ngày này, sau khi đã nêu ra những vấn đề đặc biệt cần lưu ý, liên hệ đến hòa bình trên thế giới, các Đức Giáo hoàng đều nhắc cho mọi tín hữu nhớ cầu nguyện cho hòa bình. Và hàng ngày, trong Thánh lễ, Giáo Hội vẫn nài xin Chúa ban bình an cho Giáo Hội.

5. Hòa bình tôn giáo

Ngày nay, một phạm vi hoạt động mới mẻ, khó khăn và cấp bách, đang mở ra trước mắt những người xây dựng hòa bình: họ phải cổ võ hòa bình giữa các tôn giáo và với tôn giáo, dù là giữa các tôn giáo với nhau hoặc giữa các tín đồ của các tôn giáo khác nhau với thế giới thế tục vô tín. Thần học gia Hans Kung đã tung ra khẩu hiệu sau đây, được lặp lại trong trụ sở quốc tế của Nghị viện tôn giáo ở Chicago năm 1993:

“Không thể có hòa bình giữa các quốc gia nếu không có hòa bình giữa các tôn giáo, và không thể có hòa bình giữa các tôn giáo nếu không có đối thoại giữa các tôn giáo”

Lý do cho phép một cuộc đối thoại nghiêm túc – dựa trên không chỉ các lý do đúng thời cơ mà chúng ta biết rõ, nhưng còn trên một nền tảng thần học chắc chắn – là tất cả chúng ta đều “có một Thiên Chúa độc nhất” như Đức Bênêđitô XVI đã nhắc lại nhân dịp ngài viếng thăm ngôi đền thờ Hồi giáo (Mosquée Bleue) ở Istanbul. Thánh Phaolô cũng đã dựa vào chân lý này trong bài diễn từ trước Hội đồng ở Aêrôpagô thành Athêna (x. Cv 17,28).

Một cách chủ quan, chúng ta có những ý tưởng khác nhau về Thiên Chúa. Đối với người Kitô hữu chúng ta, Thiên Chúa là “cha của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta” mà người ta chỉ có thể biết “nhờ chính Ngài”; nhưng một cách khách quan, chúng ta biết rõ là về Thiên Chúa, chỉ có thể có một Đấng duy nhất. “Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người” (Ep 4,6). Mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ có hạn từ riêng của họ để chỉ mặt trời, nhưng chỉ có một mặt trời mà thôi!

Nền tảng thần học của đối thoại cũng chính là đức tin của chúng ta vào Chúa Thánh Thần. Là Thần Khi cứu chuộc và Thần Khí ân sủng, Ngài là dây liên kết bình an giữa những người được rửa tội của các hệ phái Kitô giáo khác nhau; nhưng là Thần Khí sáng tạo, Spiritus Creator, Ngài là một dây liên kết bình an giữa các tín đồ của mọi tôn giáo, cũng như giữa mọi người thiện chí. Thánh Tôma Aquinô viết: “Mọi chân lý, dù đến từ ai, thì cũng đều bởi Chúa Thánh Thần [76].” Cũng như Thần Khí sáng tạo hướng dẫn các tiên tri của Cựu Ước đến với Đức Kitô thế nào (1 Pr 1,11), người Kitô hữu chúng ta cũng tin rằng, bằng một cách mà chỉ mình Thiên Chúa biết, Thần Khí ấy đưa dẫn chúng ta đến với Đức Kitô và tới mầu nhiệm vượt qua trong hành động của Người bên ngoài Giáo Hội. Cũng như Chúa Con không làm gì mà không có Chúa Cha, cũng vậy, Chúa Thánh Thần không làm gì mà không có Chúa Con.

6. Một hòa bình không tôn giáo ?

Nói đúng ra, Tây phương tục hóa ước mong một hình thức khác của hòa bình tôn giáo, một hình thức là kết quả của sự biến mất mọi tôn giáo.

“Hãy tưởng tượng không có Thiên đàng nào,

Cũng dễ thôi nếu bạn cố gắng,

Không có địa ngục nào ở dưới chúng ta,

Không gì khác hơn là bầu trời ở trên chúng ta […]

Hãy tưởng tượng không có quê hương nào […]

Không có lý do nào để giết hay chết,

Cũng không có tôn giáo nào nữa.

Hãy tưởng tượng mọi người,

Sống cuộc sống của họ trong hòa bình […][77]

Bài hát này, được viết do John Lennon, một trong những thần tượng lớn của âm nhạc tạp diễn hiện đại, trên một giai điệu có sức thuyết phục, có một cái gì đó làm cho người ta mơ mộng, khiến cho rất nhiều người thích nó. Nhưng có ít người nhận ra bản chất hoàn toàn không phải là hiếu hòa của nó, vì theo chính lời của tác giả, ý định “chống tôn giáo, chống quốc gia, chống quy ước được bọc đường”.

Phải chăng xây dựng một thế giới trong đó sẽ “không có tôn giáo, không có quốc gia, không có tài sản riêng” là điều đáng mơ ước? Đó lại không phải là điều các chế độ cộng sản toàn trị đã dự tính thực hiện, với những kết quả mà chúng ta đều biết sao? Hẳn mọi người sẽ hạnh phúc vì trên thế giời không có “lý do để giết chóc” nữa, nhưng nói sao về một thế giới trong đó sẽ không có “lý do để chết” nữa?

Nếu một “giấc mơ” như vậy được thực hiện, thế giới mà người ta nóng lòng chờ đợi sẽ là một thế giới đáng thương nhất và buồn tẻ nhất mà người ta có thể tưởng tượng; một thế giới nhạt nhẽo, trong đó sẽ không còn sự khác biệt nào, nơi mà người ta sẽ được định đoạt để xâu xé nhau, không “sống trong hòa bình”, vì, như René Girard nhấn mạnh, nơi nào mọi người đều muốn cùng một sự việc, nơi đó “ước muốn ngụy trang” được khích động, và cùng với nó là tranh chấp và chiến tranh. Một người khác tung ra khẩu hiệu: “Không có thiên đàng nữa. Không có địa ngục nữa. Không có gì khác hơn là trái đất” (và có lẽ tác giả bài hát đã lấy lại ý tưởng nơi ông ta); nhưng chính người khác này sau đó đã nhận thấy rằng “tha nhân là địa ngục[78].” Địa ngục “ở dưới chúng ta” chuyển chỗ lên “ở giữa chúng ta”.

Sứ điệp của Đức Giáo hoàng dành một đoạn cho những khó khăn bắt gặp ngày hôm nay trong mối tương quan giữa tôn giáo và thế giới tục hóa:

“Liên hệ tới sự tự do bầy tỏ đức tin, một triệu chứng đáng quan tâm khác về sự thiếu vắng hòa bình trên thế giới là do những khó khăn mà cả người Kitô hữu lẫn tín đố các tôn giáo khác thường gặp, là công khai và tự do tuyên xưng những xác tín tôn giáo của mình. […] Có những chế độ áp đặt cho mọi người một tôn giáo độc nhất, trong khi có những chế độ không quan tâm về tôn giáo, tuy không bách hại đạo gắt gao, nhưng lại dùng văn hóa duy trì một sự chế nhạo có hệ thống những niềm tin tôn giáo. Trong mọi trường hợp, quyền căn bản của con người không được tôn trọng, với những hậu quả nghiêm trọng cho sự chung sống hòa bình.” (số 5)

Từ những cố gắng gạt niềm tin tôn giáo ra ngoài lề, chúng ta thấy một dấu chỉ trong chiến dịch, được thực hiện trong các quốc gia và thành phố ở châu Âu cũng như ở châu Mỹ, loại bỏ mọi biểu tượng tôn giáo của lễ Giáng Sinh. Người ta đưa ra lý do là không muốn xúc phạm đến những người thuộc các tôn giáo khác sống giữa chúng ta, đặc biệt những người Hồi giáo. Đây chỉ là một cái cớ. Thực ra, chính thế giới tục hóa từ chối những biểu tượng này, chứ không phải những người Hồi giáo. Những người này không có gì phải chống lại lễ Giáng Sinh Kitô giáo, lễ mà họ cũng kính trọng. Trong kinh Coran, một sourate (chương) dành cho việc đản sinh của Đức Giêsu, nó đáng được biết đến để cổ võ cho cuộc đối thoại và tình thân hữu giữa các tôn giáo:

“Các thiên thần nói với Đức Maria : Thiên Chúa báo tin cho cô Ngôi Lời của Ngài. Người sẽ được gọi là Mêsia, Giêsu [‘Isà] con Đức Maria, được tôn kính trong thế giới này và trong thế giới khác…

Người sẽ nói cho con người, trẻ em nằm trong nôi cũng như người lớn, và Người sẽ vào số những người công chính.

Đức Maria thưa : Lạy Chúa, làm sao tôi sẽ có được một con trai ? Không người đàn ông nao đã gần gũi với tôi. Thiên thần tiếp lời : chính như vậy mà Thiên Chúa tạo dựng điều Ngài muốn. Ngài nói : Hãy có, và sự vật liền có[79].”

Chúng ta hãy tin vào điều không tin được: Một số người Hồi giáo mừng ngày Giáng Sinh của Đức Giêsu, đi đến chỗ nói rằng “người không tin vào sự đản sinh lạ lùng của Đức Giêsu thì không thể là một tín đồ Hồi giáo[80]”, trong khi đó có những người xưng mình là Kitô hữu lại muốn biến Giáng Sinh thành một lễ hội mùa đông chỉ với những con tuần lộc và những con gấu nhung lông.

Tuy nhiên, là người Kitô hữu, chúng ta không thể chạy theo những oán hận hay bút chiến, ngay cả chống lại thế giới tục hóa. Bên cạnh việc đối thoại và hòa bình giữa các tôn giáo, những người xây dựng hòa bình gặp một trở ngại: trở ngại về hòa bình giữa những người tin và những người không tin, giữa những người có tôn giáo và thế giới tục hóa, thờ ơ hay thù nghịch với tôn giáo. Chúng ta phải trả lời, thậm chí một cách cương quyết, cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của chúng ta, nhưng hãy làm như lời khuyên của thư Phêrô, “cách hiền hòa và với sự kính trọng” (1Pr 3,15-16).

Hạn từ kính trọng trong trường hợp này không có nghĩa là “kính trọng theo cách con người”, nghĩa là muốn giữ kín Đức Giêsu để không gây ra những phản ứng. Đây là sự kính trọng của một nội tâm mà chỉ mình Thiên Chúa có thể đi vào, và không ai khác có thể vi phạm hay dùng sức mạnh thay đổi. Vấn đề không phải là để Đức Giêsu trong ngoặc, nhưng bày tỏ Đức Giêsu và Phúc Âm của Ngài trong tất cả đời sống chúng ta. Chúng ta chỉ ước mong sao cho những người khác cũng tỏ ra kính trọng như vậy đối với các Kitô hữu, một điều mà cho tới nay rất thường không có.

Gần tới lễ Giáng Sinh, chúng ta có thể nhớ rằng những lời chúng ta nghe trong đêm, trích từ bài ca của các thiên thần: “Bình an dưới thế cho những người Chúa thương.” Điều này có nghĩa là không phải ước mong có bình an, nhưng là đang có bình an. Đó không là một điều mong ước, một nguyện vọng, nhưng là một tin vui. Thánh Lêô Cả nói: “Lễ Giáng Sinh của Chúa là một lễ Giáng Sinh của an bình[81].”

Làm sao dâng lại cho Chúa Cha quà tặng vô biên mà Ngài đã làm cho thế gian khi ban cho thế gian người Con Một của Ngài? Nếu thực sự có một điều hớ hênh không được làm trong dịp lễ Giáng Sinh, chính là dùng món quà mà, vì lầm lẫn, tặng lại cho chính người đã tặng nó cho chúng ta. Vậy mà với Thiên Chúa lúc nào chúng ta cũng có thể làm điều hớ hênh này. Việc cám ơn duy nhất có thể làm là dâng cho Ngài Đức Giêsu là Con Ngài, mà cũng là anh em của chúng ta. Quà tặng duy nhất xứng đáng với Thiên Chúa là Thánh Thể.

Còn đối với Đức Giêsu, chúng ta sẽ dâng quà tặng nào đây? Một bản văn lễ Giáng Sinh của phụng vụ Đông phương nói rằng:

“Lạy Đức Kitô, chúng con có thể dâng gì cho Ngài, để Ngài làm người trên trái đất? Mọi thụ tạo mang lại cho Ngài dấu biết ơn: các tiên thần là lời ca hát, các tầng trời là các tinh tú, trái đất là hang đá, sa mạc là máng cỏ. Còn chúng con, chúng con dâng cho Ngài một người Mẹ trinh nữ[82]!”

(*) Ghi chú của người dịch về Kinh Hòa Bình

Lâu nay người ta nghĩ tác giả của kinh này là thánh Phanxicô Assisi. Thật ra kinh này chỉ được viết ở đầu thế kỷ XX.

Kinh được phổ biến lần đầu tiên trên một tập san tu đức tiếng Pháp năm 1912, như một lời kinh dùng trong Thánh lễ. Năm 1915, một nhóm công giáo Pháp thấy hay, nên trình lên ĐGH Bênêđitô XV, muốn dùng kinh này để cầu xin cho Thế chiến I chấm dứt. ĐGH truyền cho in kinh này trên báo của Tòa Thánh. Sau đó nhật báo La Croix (Pháp) cũng xin phép được phổ biến.

Ở Hoa Kỳ, cũng vào thời này, nhiều người thấy kinh hay nên đã gán cho thánh Phanxicô Assisi là tác giả, rồi in và phân phát rộng rãi để cầu nguyện cho hòa bình cả thế giới.

Bản dịch tiếng Anh được ưa chuộng nhất do dịch giả Johann Sebastian Von Tempelhoff, ofm, ở Nam Phi. Ông đã phổ nhạc và cho lưu hành khắp nơi.

Mẹ Têrêxa đưa bản kinh vào các lời cầu nguyện buổi sáng cho các chị em Hội Thừa sai Bác ái. Mẹ còn muốn cho cộng đoàn đọc kinh này ngày Mẹ nhận giải Nobel Hòa bình năm 1979 ở Oslo (Na Uy).

Chẳng ai rõ vì sao kinh này được gán cho thánh Phanxicô Assisi, nhưng ý tưởng của lời kinh rất phù hợp với lối sống và lời dạy của thánh nhân. Cũng có người cho là một tu sĩ dòng Capucinô cho in bản kinh vào mặt sau tấm ảnh thánh Phanxicô, khiến dân chúng tưởng ngài là tác giả bản kinh.

VIII. “PHÚC THAY AI BỊ BÁCH HẠI VÌ SỐNG CÔNG CHÍNH, VÌ NƯỚC TRỜI LÀ CỦA HỌ”

1. Hai lý do bách hại: sự công chính và danh Đức Kitô

Mối Phúc bị bách hại là một trong những Mối Phúc hiếm hoi (tất cả có bốn) được cả Matthêu lẫn Luca thuật lại, và nó là Mối Phúc duy nhất có kèm theo lời bình giải vắn của chính Đức Giêsu. Để hiểu những suy nghĩ sau đây, chúng ta hãy nhìn theo kiểu nhất lãm về những bản văn liên hệ của Matthêu và Luca.

Yếu tố phân biệt và làm rõ nét nhất hai bản văn là lý do khiến người ta bị bách hại: “vì Con Người” theo Luca, và “vì sống công chính” theo Matthêu. Trong trường hợp thứ nhất, chính là lý do Kitô học: người được chúc phúc là những môn đệ chịu đau khổ vì tin vào Đức Kitô. Nền tảng có tính chất lịch sử: người ta xem xét tình hình cụ thể của Giáo Hội, đối tượng phân biệt và thù nghịch của thế giới chung quanh, mà khởi đầu đặc biệt là thế giới Do thái.

Trong trường hợp thứ hai, lý do có tính chất luân lý và là nền tảng phổ quát. Những người được chúc phúc không phải là một nhóm rõ ràng (“Phúc cho anh em..”), nhưng là tất cả những ai bị bách hại vì sống công chính. Nơi Matthêu cũng có lý do Kitô học (“vì Ta”) nhưng có tầm mức rộng lớn hơn. Sự công chính nói ở đây chắc chắn là sự công chính của Phúc Âm, sự công chính của Nước Thiên Chúa (“Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người…”), được diễn tả bằng “những công việc của đức công chính” (Mt 25) và chính vì thế đây là một phạm trù phổ quát và bao gồm hơn là con người lịch sử Đức Kitô.

Chúng ta có thể thoáng thấy một sự tiến triển nào đó trong cách giải thích mối phúc này qua các thế kỷ. Thời Thượng cổ và một phần thời Trung cổ, lý do Kitô học của Luca có ưu thế: chỉ được coi là tử đạo những ai bị bách hại vì tin vào Đức Kitô. Trong suốt thời hiện đại, đặc biệt ngày nay, lý do luân lý và phổ quát “vì sống công chính” đã có một tầm quan trọng mới. Các vị tử đạo (kể cả những vị được Giáo Hội chính thức công nhận như thế) không chỉ là những vị đã bị xử tử cách minh quyết vì tin vào Đức Kitô, mà cả những vị hiến mạng sống mình vì yêu tha nhân, như thánh Maximilianô Kolbê; những vị chết để bảo vệ quyền lợi của những người bị áp bức, như Oscar Romero; những vị chết để bảo vệ sự trong sạch của mình, như thánh nữ Maria Goretti. Niềm tin vào Đức Kitô là giả định cần thiết cho mọi sự tử đạo Kitô giáo xác thực, nhưng không luôn luôn và nhất thiết là lý do của sự tử đạo ấy.

2. Hai hình thức bách hại: giết chết và gạt ra bên lề

Việc bách hại các môn đệ Đức Kitô có thể có hai hình thức khác nhau mà chúng ta cần phải biết đến hôm nay. Hai hình thức này được mô tả như gương mẫu và có tính tiên tri ở sách Khải huyền chương 13, bằng hình ảnh hai Con Thú, một con từ dưới biển đi lên (Kh 13,1-10), một con từ đất đi lên (Kh 13,11-18). Con Thú từ dưới biển đi lên được đồng hóa với quyền hành chính trị thay thế cho Thiên Chúa, được phép “giao chiến với dân thánh và thắng họ”, lên án giam tù người này, dùng gươm giết chết kẻ kia.

“Con Thú kia” từ đất đi lên cũng bách hại các thánh, cho dù bằng cách khác nhau: nói chung nó không giết người, nhưng gạt họ ra bên lề, khai trừ họ. Mục đích của nó là “mê hoặc những người sống trên mặt đất, bảo họ tạc tượng thờ Con Thú thứ nhất” (Kh 13,11 tt). Đây là một quyền lực bí ẩn, một loại thừa tác vụ tuyên truyền của Con Rồng. Nó thúc đẩy người ta thờ lậy và lụy phục Con Thú thứ nhất, với mục đích này nó bắt đầu thực hiện điều kinh khủng là thích dấu trên tay hữu hoặc trên trán. Nếu không mang dấu tích đó, không ai sẽ có thể “mua hay bán”, nghĩa là thuộc về thành phần xã hội (tiền lệ đáng buồn về ngôi sao Đavít mà Đức Quốc Xã áp đặt cho người Do Thái). Con Thú thứ hai không thích mang vũ khí, nhưng thích sử dụng văn hóa và công luận hơn.

Sự mô tả của sách Khải huyền có một chiều kích lịch sử hiển nhiên. Con Thú thứ nhất hầu như nhất trí được đồng hóa với hoàng đế Rôma và các người đại diện ông, đặc biệt Domitianô, người đã chính thức hóa việc tôn thờ hoàng đế như thần linh, và với Nêrô, tác giả của cuộc bách hại chính thức thứ nhất chống lại người Kitô hữu. Con Thú thứ hai biểu thị vẻ huy hoàng về tôn giáo và văn hóa, phục vụ và cổ võ ý thức hệ vương quyền, đặc biệt ở Tiểu Á.

Nhưng sự mô tả này hiển nhiên cũng có một chiều kích tiên tri. Nó vạch ra khung cảnh điều kiện của các môn đệ Chiên Con ở mọi giai đoạn lịch sử. Nhưng sẽ là sai lầm nếu tìm kiếm qua những mô tả của sách Khải huyền, đặc biệt mô tả về hai Con Thú, những so sánh đúng lúc với những biến cố hay những thực tại lịch sử, như người ta đã thường toan tính làm, từ đó mà rút ra những kết luận sai lạc. Cũng sẽ là hoàn toàn điên rồ nếu không dùng những lời tố cáo mang tính tiên tri để soi sáng những biến cố sau này xẩy ra trong Giáo Hội và trên thế giới.

Tất cả những điều đó đặc biệt hiển nhiên ngày hôm nay. Một khi những chế độ toàn trị vô thần và những chế độ độc tài quân phiệt bị lật đổ, những chế độ mang bộ mặt Con Thú thứ nhất, và làm cho biết bao nhiêu người chịu tử đạo trong suốt thế kỷ vừa qua, thì chính Con Thú thứ hai giờ đây đang nổi lên. Đức Giáo hoàng Bênêđitô XVI dường như áp dụng hình ảnh hai Con Thú vào tình hình hiện nay khi ngài viết trong sứ điệp Ngày hòa bình thế giới:

“Có những chế độ áp đặt cho mọi người một tôn giáo duy nhất, trong khi những chế độ dửng dưng với tôn giáo, tuy không bách hại dữ dội, nhưng dùng văn hóa chế nhạo có hệ thống những niềm tin tôn giáo” (số 5).

Chắc chắn, những cuộc bách hại đẫm máu không chấm dứt, và hầu như mỗi ngày tin tức cho hay về những Kitô hữu bị giết hoặc bị buộc phải lưu vong do những nhóm quá khích trong các nước Hồi giáo. Lạ nhất là chính Magdi Allen, một nhà báo theo đạo Hồi, mới đây đã phát động ở Ý phong trào “Hãy cứu lấy các Kitô hữu” để lay động công luận thờ ơ đến lạ lùng trước vấn đề này. Trong thế giới Tây phương tục hóa của chúng ta, không có hình thức thông thường của bách hại, nhưng có hình thức thứ hai, hình thức dùng dư luận chứ không dùng gươm giáo.

Nhà chú giải Heinrich Schlier đã phân tích thích đáng sự kiện này, bắt đầu từ câu trong Phúc Âm nói về “tên thủ lãnh nắm giữ quyền lực trên không trung” (Ep 2,2). Ông khiến người ta chú ý tới vai trò của công luận trong vấn đề này. “Thần trí của thế gian” (1Cr 2,12), như Phaolô nói, hay thần trí của thời đại trở thành một bầu khí tinh thần qua đó những quyền lực quỷ thần hoạt động, như từ phía sau hậu trường.

“Người ta xác định một thần trí có cường độ lịch sử lớn mà cá nhân khó có thể trốn tránh. Làm, nghĩ hay nói điều gì đó ngược lại được coi như một việc điên rồ hoặc dứt khoát như một sự bất công hay một tội phạm. Khi ấy, người ta không dám định vị mình nữa trước những sự vật, những tình huống, nhất là trước sự sống một cách khác với cách được coi là tốt đẹp rồi. Kẻ thống trị ẩn mình của thế giới này – chính xác ẩn mình trong lãnh vực tinh thần, trong bầu khí của những thời kỳ khác nhau – cho thấy thế giới và cuộc sống từ quan điểm độc nhất của nó[83].”

Hình ảnh quyền lực “trên không trung” đặc biệt xác đáng kể từ lúc ý thức hệ này được chuyên chở ưu đãi trong những phương tiện truyền thông đại chúng chuyển tải sứ điệp của nó trên không trung : vô tuyến truyền thanh, truyền hình, internet

Hai hình thức bách hại này khác nhau ở chỗ nào? Nhà Nước vô thần công khai chống lại đức tin, còn sự tục hóa có khuynh hướng làm cho đức tin bị coi như vô nghĩa hoặc như cặn bã của các giai đoạn mà ý thức của con người đã vượt qua. Một trong những tác giả thuộc loại này đã viết: “Niềm tin tôn giáo không thể diệt được, vì chúng ta là những thụ tạo tiến triển không ngừng. Nó sẽ không bao giờ tàn lụi, hoặc ít ra, nó chỉ tàn lụi ngày chúng ta chiến thắng nỗi sợ chết, sợ mầu đen, sợ người lạ, sợ những người khác[84].”

Người ta dự đoán tôn giáo cũng sẽ tồn tại trước những cuộc tấn công hiện nay, như đã tồn tại trước những cuộc tấn công trước đây, và người ta cố cắt nghĩa sự kiện rắc rối này, bằng cách coi nó như một sản phẩm nhất thời, gắn liền với điều kiện hiện tại của con người “đang tiến hóa”. Bằng cách này, người trí thức vô thần mặc nhiên đảm nhận vai trò của người một mình vi phạm luật này, khi dự đoán sự tiến hóa sẽ chấm dứt, và, như Zarathoustra của Nietzsche đánh cuộc, người đó sẽ trở lại thế gian để soi sáng những con người đáng thương về thực tại các sự vật.

3. Điều làm nên sự tử đạo đích thật: tình yêu, sự khiêm nhường và ân sủng

Không phải mọi người bị bách hại đều được kể vào số những người được Đức Giêsu chúc phúc. Điều kiện cơ bản để được vào số này là không có pha trộn nào về vai trò giữa người bị bách hại và kẻ bách hại.

Tôi chỉ muốn kể ra đây làm ví dụ trường hợp kinh khủng tráo đổi vai trò giữa những người bị bách hại và kẻ bách hại, đó là thái độ của người Kitô hữu đối với người Do Thái qua các thế kỷ. Người Do Thái bị người ta thù ghét, bị buộc tội, bị lăng nhục, bị ruồng bỏ “vì Con Người”, làm cho kiểu nói này mang một ý nghĩa khác với ý nghĩa mà Đức Kitô đã dự kiến và chấp nhận.

Khi sự phân biệt giữa hai vai trò kém đi hay mờ nhạt, người ta đối diện với những trường hợp sai lệch về sự tử đạo tự sát hay sát nhân: người bị bách hại – hay nghĩ mình bị bách hại – biến thành người bách hại, người tử đạo biến thành lý hình. Phán đoán quan niệm tử đạo trong các tôn giáo khác không phải là việc của chúng ta, nhưng chúng ta phải nói rõ ai thực sự chịu bách hại theo Phúc Âm. Đức Giêsu bảo các môn đệ sống “như chiên giữa bầy sói”. Ngài nói với họ: “Khi người ta bách hại anh em trong thành này, thì hãy trốn sang thành khác.” (Mt 10,23) Dựa vào những lời này mà các Giáo Phụ biện minh cho việc khước từ mọi thái độ kháng cự kịch liệt, thậm chí nếu có dịp thì bào chữa cho việc trốn tránh cuộc bách hại[85].

Một hình thức lẫn lộn khác giữa những vai trò là “tử đạo khiêu khích”, trong đó chính vị tử đạo gây nên cuộc bách hại do thái độ thách thức của mình. Ngày nay, chúng ta không chấp nhận nữa, chẳng hạn, cách làm của những vị tử đạo dòng Phan Sinh, những vị này, vừa cập bến ở Marốc, bắt đầu rao giảng đức tin tại công trường, đòi hỏi những người Hồi giáo trong thành phố, cho dù là nhà lãnh đạo hay dân chúng, phải từ bỏ niềm tin của họ và cải đạo sang Kitô giáo[86].

Thánh Phanxicô biết điều đó, cho dù ngài ca ngợi những vị tử đạo này như là “những anh em hèn mọn thực sự” về lòng can đảm và niềm tin cao đẹp của họ, nhưng ngài bắt đầu tìm kiếm một cách khác “đến với những người Hồi giáo và lương dân”, hơn là công khai rao giảng đức tin Kitô giáo và khuyên họ cải đạo khi hoàn cảnh cho phép. Cách khác này, được cắt nghĩa trong luật tiên khởi, “không nêu ra những cuộc tranh luận hay bàn cãi, nhưng phục lụy mọi người vì lòng yêu mến Thiên Chúa, và tuyên bố mình là Kitô hữu[87]”.

Vì lo bút chiến với nhóm Đonatô biện minh cho sự tử đạo tự sát, thánh Augustinô đã suy nghĩ lâu về bản chất đích thực của sự tử đạo Kitô giáo, trước khi đi đến kết luận là “không phải khổ hình, nhưng là lý do làm nên sự tử đạo”.

Câu châm ngôn này, tách riêng ra, cũng có thể khiến nhiều người giải thích sai. Biết bao nhiêu người chết vì một lý do sai lầm, thậm chí bất công, mà vẫn tưởng mình chết vì chính nghĩa. Chính vì vậy Augustinô thấy cần phải xác định rõ và bổ túc cho định nghĩa này. Chết cho Đức Kitô, cho đức tin cũng không đủ nữa, nếu người ta chết mà không có tình yêu, do đối kháng với một người khác. Dựa vào lời thánh Phaolô: “Giả như tôi nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (2Cr 13,3), Augustinô coi đức mến là tiêu chuẩn để nhận ra sự tử đạo đích thực, và đặc biệt trong trường hợp những người Đonatô ly khai, là yêu mến sự hiệp nhất của Giáo Hội. Chính tình yêu và sự tha thứ, mà vì đó Đức Kitô, Stêphanô và biết bao nhiêu người khác sau các ngài đã chịu chết, là dấu chỉ giúp nhận ra sự tử đạo đích thực của Kitô giáo. Câu châm ngôn “Chính lý do làm nên sự tử đạo” gộp chung vào câu: “Chính bác ái làm nên sự tử đạo[88]”.

Thực xúc động khi mà, sau bao nhiêu thế kỷ, chính tại Bắc Phi, nơi Augustinô đã hoạt động trước đây, người ta lại được thấy một trong những chứng từ sáng ngời nhất về sự tử đạo vì tình yêu. Tôi muốn nói đến bẩy đan sĩ dòng trappít bị một nhóm người Hồi giáo thuộc ngành chính thống ám sát vào tháng 5 năm 1996, tại Tibhirine nước Algêria. Không lâu trước đó, khi thấy kết cục bi thảm ngày càng hiển nhiên, thầy tu viện trưởng Dom Christian Marie de Chergé đã viết một di chúc thiêng liêng rồi ra sẽ là một trong những cách diễn tả cao cả nhất của linh đạo Kitô giáo về sự tử đạo:

“Đã đến lúc tôi thích khoảng thời gian tỉnh táo này để nài xin Thiên Chúa và các anh em đồng loại của tôi tha thứ cho tôi, đồng thời để tôi hết lòng tha thứ cho người có lẽ làm hại tôi.”

Ngài không muốn tất cả Hồi giáo hoặc dân tộc Algêria bị buộc tội về cái chết có thể xẩy ra cho ngài và cho các anh em ngài; ngài cũng không muốn tội lỗi lại đổ xuống trên người trực tiếp gây ra cái chết này, “nhất là nếu anh ta bảo mình hành động vì nghĩ rằng một người Hồi giáo trung thành phải làm như thế”. Và cương quyết hướng về người có lẽ một ngày nào đó đứng trước mặt ngài tay cầm dao nhọn, ngài kết luận:

“Cả bạn nữa, người bạn vào phút chót, người sẽ không biết việc mình đã làm. Phải, cho cả bạn nữa, tôi muốn lời Cám Ơn này, và “Lời Vĩnh Biệt” này như bạn toan tính. Ước gì chúng ta được gặp lại nhau trên thiên đàng, như những người trộm lành, nếu điều đó làm hài lòng Thiên Chúa, Cha của cả hai chúng ta. Amen[89].”

Những hoàn cảnh thúc đẩy Augustinô nêu bật một phẩm chất chủ yếu thứ hai của sự tử đạo Kitô giáo: sự khiêm nhường. Trong cuốn De Civitate Dei (Thành đô Thiên Chúa), ngài đối chiếu với văn hóa ngoại giáo xiển dương những cách tử đạo và tự sát vì danh dự : Lucrêciô, Catô, Muciô Scaevola, Attiliô Rêgôlô. Theo Augustinô, tất cả những người trên đều tỏ ra kiêu ngạo, chứ không phải một tâm hồn cao cả đích thực. Chính sự cao cả này lẽ ra phải là lý do giúp họ mạnh mẽ chịu đựng nỗi bất hạnh và nhục nhã, hơn là trốn tránh điều đó bằng cách tự tử.

Sự khiêm nhường của các vị tử đạo còn biểu lộ qua việc họ sợ hãi và ghê tởm cái chết: “Đó là những vị tử đạo, nhưng trước hết, là những con người[90].” Chúng ta khác xa với tâm trí của hiền nhân phái khắc kỷ, tin chắc rằng cho dù cả thế giới có đổ trên đầu ông thì ông vẫn không nao núng giữa những đổ nát[91]. Người tử đạo Kitô hữu sẽ không bao giờ đương đầu với thử thách mà dựa vào sức riêng của mình, nhưng chỉ dựa vào ơn Chúa mà thôi. Trong cuộc bút chiến chống lại chủ thuyết Pêlagiô, câu khẳng định nổi tiếng của Augustinô: “Chính nghĩa làm nên sự tử đạo” sẽ có ý nghĩa phong phú bằng một chân lý thứ hai: “Ân sủng làm nên sự tử đạo”.

Được những suy nghĩ sâu sắc này soi sáng, ta thấy một số pha trộn giữa thái độ của vị tử đạo và thái độ của người anh hùng ngoại giáo trong rất nhiều văn chương tử đạo lục xem ra ngây ngô và lỗi thời. Nếu đúng theo lịch sử (nhưng không phải vậy) là phó tế Laurensô đã nói với đao phủ thủ lúc ngài đang nằm trên vỉ sắt nóng[92]: “Bên này chín rồi, lật tôi qua bên kia mà ăn”, thì ngài giống với Muciô Scaevola hơn là với Đức Giêsu Kitô.

Chính theo nghĩa này mà cách trình bầy của Bernanos về lúc chuẩn bị tử đạo trong sách Le Dialogue des Carmélites (Đối thoại của các nữ tu Cát minh) và trước đó là cách trình bầy của Gertruđê von le Fort trong truyện La dernière à l’échafaud (Nữ tu cuối cùng lên đoạn đầu đài) xem ra có mầu sắc rất Augustinô và Kitô giáo. Nữ tu trẻ Blanche de l’Agonie de Jésus sợ hãi trước viễn cảnh tử đạo và bỏ trốn, bỏ lại các nữ tu đồng bạn. Tuy nhiên vào phút chót, cô mạnh mẽ một mình ra trình diện và bước lên máy chém, vừa đi vừa hát đoạn cuối bài Veni Creator. Như Đức Giêsu, hấp hối trước cuộc khổ nạn đang đến gần, đã kêu lên: “Tinh thần thì hăng say nhưng thể xác thì yếu hèn”, nhưng rồi Ngài cương quyết nói với các môn đệ: “Đứng dậy, ta đi nào”.

Vở kịch Meurtre dans la cathédrale (Giết người trong vương cung thánh đưởng) của Tôma S. Eliot cũng cho thấy một suy tư rất hay về sự tử đạo Kitô giáo. Theo ông, cám dỗ cuối cùng mà vị tử đạo phải đương đầu là sự kiêu ngạo. Tên cám dỗ có nhiều cách len lỏi vào Tôma Becket: “Điều gì có thể sánh được với vinh quang của các thánh? Vinh quang trần thế, của vua chúa hay của hoàng đế chăng? Hãy tìm con đường tử đạo, hãy ở chỗ thấp nhất dưới đất, để được chỗ cao nhất trên trời…” Nhưng những lời sau cùng của vị Tổng Giám mục nói với dân mình, trước khi người của nhà vua đến bắt, là: “Sự tử đạo Kitô giáo không phải là do ý của một người muốn trở nên thánh…Một vị tử đạo, một đấng thánh luôn được thực hiện bởi ý định của Thiên Chúa, vì tình yêu của Ngài đối với con người… Vị tử đạo không ao ước gì cho mình, ngay cả vinh quang của sự tử đạo.” Tử đạo là ân sủng.

4. Bị bách hại cách chính đáng hay không chính đáng?

Trong phần bình giải các Mối Phúc, nhà chú giải J. Dupont coi câu xen trong bản văn của Matthêu là quan trọng: “Phúc thay anh em khi vì Thày mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.” Theo ngài, câu xen “cách giả dối” (pseudomenoi nghĩa đen là “bằng cách nói dối”) phản ánh mối bận tâm của tác giả sách Phúc Âm phân biệt sự bách hại không chính đáng với sự bách hại chính đáng.

Có lẽ do kinh nghiệm về Giáo Hội thúc đẩy, Matthêu nhắm tới việc người Kitô hữu có thể không bị tố cáo sai, nhưng tố cáo đúng, không phải giả dối, nhưng sự thật là vậy. Hơn nữa, đây không phải là tiếng nói đơn độc trong Giáo Hội thời tông đồ. Thánh Phêrô từng phân biệt việc chịu đau khổ với tư cách người Kitô hữu, với việc chịu đau khổ vì tội “giết người, trộm cắp, làm điều gian ác” (1Pr 4,15-16), và thánh Phaolô thường khuyên tín hữu đừng là lý do cho người ngoại chê trách vì cách cư xử của mình.

Những nhà rao giảng Kitô giáo đầu tiên cũng trình bầy khả năng cuộc bách hại có thể được quyết định do cách hành xử thiếu nhất quán của người Kitô hữu, chứ không thuần túy thù ghét danh xưng của họ. Một tác giả vô danh ở thế kỷ II đã viết: “Khi những người ngoại giáo nghe từ miệng chúng ta những lời của Thiên Chúa, họ thán phúc nét đẹp đẽ cao cả của những lời đó; nhưng rồi, khi biết những việc chúng ta làm không đáp ứng những lời chúng ta loan báo, họ bắt đầu chê trách danh Thiên Chúa[93].”

Không đâu như trường hợp này, các Mối Phúc được coi như bức chân dung tự thuật về Đức Giêsu, trong đó các Mối Phúc được thực hiện đầy đủ và có tính chất gương mẫu. Theo triết gia Kierkegaard, chỉ có một người đã thật sự bị bách hại, người duy nhất bị bách hại cách bất công, đó là Đức Giêsu Kitô. Còn tất cả chúng ta, khi bị bách hại và chịu khổ, chúng ta phải liên kết với người trộm lành trên thập giá mà nói: “Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì sai trái” (Lc 23, 41). Có lẽ chúng ta đã không phạm lỗi đặc biệt được gán cho chúng ta, nhưng chúng ta không hoàn toàn không có lỗi. Chỉ mình Thiên Chúa, khi chịu khổ là chịu khổ mà hoàn toàn vô tội. Có lẽ ngoại trừ nỗi khổ của các trẻ em vô tội, và chính vì vậy mà chúng ta khó lòng chấp nhận nỗi khổ ấy. Đau khổ này liên kết với đau khổ của Con Chiên vô tì tích, là ý nghĩ duy nhất có thể cứu người tín hữu khỏi thất vọng.

Tất cả những điều đó giúp cho các tín hữu không rơi vào những mặc cảm vô ích về sự bách hại, trước sự thù nghịch ngày càng gia tăng của thế giới tục hóa đối với họ. Một sự thù nghịch như vậy không bao giờ tồn tại mà không có một lý do nào đó. Ngay cả hôm nay, cũng như vào thời tác giả vô danh viết Thư thứ hai của Clêmentê, nhiều người khâm phục vẻ đẹp của Đức Kitô và chân lý Phúc Âm, nhưng họ công phẫn trước sự bất nhất của những người xưng mình là Kitô hữu.

Thánh Phaolô mô tả thái độ lý tưởng của người Kitô hữu trước sự đối kháng của thế gian: “Bị nguyền rủa, chúng tôi chúc lành ; bị bắt bớ, chúng tôi cam chịu ; bị vu khống, chúng tôi đem lời an ủi” (1Cr 4,12-13). Một chương trình mà tác giả Thư gửi Điognêtô đã thấy được thực hiện nơi người Kitô hữu thời ông, như ông viết: “Họ yêu thương mọi người, và mọi người bách hại họ; người ta nguyền rủa họ và họ chúc lành.”

Vả lại, chúng ta không chỉ thấy Mối Phúc của những người bị bách hại vì lẽ công chính trong những dịp quan trọng, hoặc trong cuộc gặp gỡ giữa Giáo Hội và thế giới, mà cả trong đời sống thường ngày, trong những tương phản và đối kháng mà cuộc sống dành cho mỗi người. Sự “công chính”, tức bổn phận và lương tâm, thường thúc đẩy người ta nói hay làm những chuyện gây ra đối kháng với chúng ta, thậm chí ngay trong vòng hạn hẹp giữa những người trong một nhà. Đức Giêsu đã cảnh báo: “Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba. Họ sẽ chia rẽ nhau : cha chống lại con trai, con trai chống lại cha ; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng” (Lc 12,52-53). Kể cả giữa lòng Giáo Hội.

5. Trước khi xuống núi

Đã dến lúc chúng ta kết thúc loạt bài suy niệm của chúng ta về các Mối Phúc. Tôi muốn dừng lại một chút để có một cái nhìn toàn bộ về chúng. Có một dạo cộng đồng Brescia tổ chức những buổi thuyết trình công khai về các Mối Phúc, mời các nhân vật văn hóa, tài chính, chính trị bình giải chúng. Người ta giao cho tôi Mối Phúc của những người có lòng trong sạch. Văn sĩ Erri De Luca là Mối Phúc của những người có tinh thần nghèo khó. Ông ta đã có những phê phán về các Mối Phúc mà tôi thấy rất hiệu quả:

“Những giá trị bị đảo lộn. Một loạt niềm vui mới kế tiếp nhau được đặt đối trọng với những thứ bậc nghèo nàn của trần thế. Hạnh phúc cho những người hiền lành, đói khát, thương xót sao? Sự mới mẻ thật lạ lùng. Những niềm vui này cháy lên như mẫu củi cháy dở cầm ở tay…Chưa bao giờ những hàng ngũ bị đảo lộn như thế, không phải do một cuộc nổi dậy, nhưng dưới đà tiến của một niềm vui mà những người có thế lực chưa từng thấy…Sự mới mẻ của nó chưa có chỗ đứng trên mặt đất[94]”.

Có lẽ có điều gì đó cần làm rõ liên hệ tới quả quyết cuối cùng. Đức Giêsu nói: “Triều Đại Thiên Chúa không đến như một điều có thể quan sát được. Và người ta sẽ không nói : Ở đây này ! hay ở kia kìa !, vì này Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông” (Lc 17,21), một điều đặc biệt có giá trị cho các Mối Phúc. Chúng đã được thực hiện, ít ra một phần, trong thế giới này, nhưng không theo cách mà “thế gian” mong đợi. Người ta không còn coi trọng những con người, khi còn sống, đã cảm nghiệm được hạnh phúc mà Đức Kitô đã hứa cho những người nghèo khó, hiền lành, có tâm hồn trong sạch. Giờ đây, như thánh Tôma lưu ý, những người sầu khổ được Chúa Thánh Thần an ủi, Đấng được gọi là Paraclet, nghĩa là Đấng an ủi; những người đói khát được no thỏa bằng bánh ban sự sống; những người thương xót được xót thương; những người có lòng trong sạch một cách nào đó được thấy Thiên Chúa, và những ai chế ngự được những lý do giận dữ được gọi là con Thiên Chúa[95].

Nhưng điều đó không biện minh cho mọi sự. Đây là một sự hoàn tất được dành cho một số người, không làm thỏa mãn những ai đau buồn vì sự nghèo khó, đói khát và bất công mà toàn dân phải chịu. Chính theo nghĩa này mà người ta hiểu tiếng than mà người bạn của De Luca thốt lên: “Sự mới mẻ của các Mối Phúc chưa thấy có trên trần gian này.” Về các Mối Phúc, người ta hẳn có thể lặp lại điều Gioanna d’Arc của Péguy đã nói, khi bình giải kinh Lạy Cha: “Lạy Cha chúng con, nước Cha còn lâu mới trị đến, ý Cha còn lâu mới thể hiện[96].” Lạy Thiên Chúa của con, những người đói khát còn lâu mới được no thỏa, những người sầu khổ còn lâu mới được ủi an, những người hiền lành còn lâu mới được Đất Hứa làm gia nghiệp!

Giải pháp là ở chỗ khác. Để hiểu các Mối Phúc, phải đi từ quy đề (apodose), nghĩa là từ lời hứa gắn liền với mỗi Mối Phúc. Lời hứa này hầu như luôn ở tương lai, dẫn tới một cuộc sống khác: Phúc thay ai sầu khổ “vì họ sẽ được ủi an”, ai hiền lành “vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp”, ai khao khát “vì sẽ được thỏa lòng”, ai xót thương “vì sẽ được xót thương”, ai có tâm hồn trong sạch “vì sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa”, ai xây dựng hòa bình “vì sẽ được gọi là con Thiên Chúa”, và cuối cùng ai bị bách hại vì sống công chính “vì Nước Trời là của họ”.

Trở ngại lớn nhất để hiểu các Mối Phúc, cũng như để hiểu đức tin nói chung, tùy thuộc vào sự biến mất của chân trời vĩnh cửu. Đầu tiên là sự hoài nghi của thuyết mácxít về chữ “vĩnh cửu”, theo đó vĩnh cửu làm mất đi sự dấn thân lịch sử để biến đổi thế giới và cải thiện đời sống hiện tại, đó là một sự trốn tránh thực tại. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa tiêu thụ ồ ạt làm phần còn lại, ra vẻ lấy làm lạ và gần như khiếm nhã khi có người hôm nay vẫn còn nói về vĩnh cửu giữa những người “hiện đại”, phù hợp với thời của họ.

Có lẽ dưới vỏ bọc quên lãng này, nơi mỗi người vẫn còn chút hoài niệm thầm kín về vĩnh cửu. Các triết gia cho rằng con người là “một hữu thể hữu hạn”, vì vậy nó có khả năng hướng tới cái vô hạn mà nó mong ước và có nhu cầu.

Một số người không tin cho rằng chờ mong cuộc sống vĩnh cửu là thiếu khôn ngoan. Họ nói: hài lòng với cuộc sống này, để yên thế giới này cho con cái chúng ta và cho những người đến sau chúng ta, vậy là đủ rồi. Tôi không nghi ngờ sự thành thực của họ, nhưng tôi khó mà tin rằng ý nghĩ này khiến họ thực sự hài lòng và thỏa mãn. Triết gia Miguel Unamuno (một nhà tư tưởng “thế tục”) trả lời như sau cho một người bạn đã trách ông kiêu căng và tự phụ khi đi tìm kiếm vĩnh cửu:

“Tôi không nói rằng chúng ta xứng đáng một thế giới bên kia, cũng không nói rằng lô-gích chứng minh cho chúng ta thế giới ấy. Tôi nói rằng chúng ta cần nó, dù chúng ta có xứng đáng hay không. Như vậy đó. Tôi nói rằng điều đang qua đi không làm tôi thỏa mãn, tôi khao khát vĩnh cửu, không có nó thì không còn gì quan trọng đối với tôi. Không có nó, không còn vui thú gì để sống nữa… Quả quyết rằng “Phải sống, phải hài lòng với cuộc sống này” là điều quá dễ. Vậy còn những người không hài lòng với cuộc sống này thì sao[97]?”

Cũng theo nhà tư tưởng trên, đây không nói về người khát khao vĩnh cửu mà không yêu mến sự sống, nhưng về người không khao khát vĩnh cửu, vì lẽ người ta dễ dàng suy nghĩ là vĩnh cửu ấy phải chấm dứt. Thánh Augustinô đã diễn tả cùng một ý nghĩ như vậy khi ngài viết: “Sống tốt ích gì nếu nó không đi đến cuộc sống đời đời[98].” Nếu phủ nhận yếu tố vĩnh cửu nơi con người, người ta tức khắc phải hô lên như nhân vật Macbeth của Shakespeare sau khi giết vua: “Không có gì nghiêm trọng trong cuộc sống phải chết này, tất cả đều là trò chơi: vinh quang và danh dự đã chết, rượu của sự sống đã đổ tràn[99].”

Mỗi năm diễn ra cuộc họp mặt cấp quốc gia của phong trào Canh Tân trong Thần Khí mà tôi thường được mời tham dự. Một năm kia, tôi cảm thấy được gợi hứng nói về vĩnh cửu, và tôi nghĩ là tôi đã làm với tất cả xác tín và hăng say. Tôi muốn làm sống lại lời đã chết này, và tôi mời gọi đám đông (chừng 50.000 người) cùng với tôi hô lên: “Vĩnh cửu, vĩnh cửu.” Người ta tưởng chừng như đang trên chiếc tầu buồm của Christophe Colomb khi mà, lúc hầu như tuyệt vọng, một buổi sáng người ta nghe tiếng người gác đêm hô to: “Đất liền, thấy đất liền rồi.”

Điều ấy làm cho người ta nhiệt tình đến nỗi sau đó một số người in những “hình đề can” dán lên kính xe hơi. Trên một trong những đề can đó, có một chữ “I”, tiếng Anh có nghĩa là “tôi”, rồi một trái tim đỏ biểu thị chữ “yêu”, theo sau là chữ eternity, “vĩnh cửu”. Trên một đề can khác là câu thơ của một thi sĩ tín hữu: “Trên thế gian mọi sự đều hư ảo, trừ ra điều thuộc vĩnh cửu.”

Đúng là “chân lý các Mối Phúc” chưa có chỗ đứng trên trái đất”, ít ra chưa có như chúng ta mong muốn. Đức Giêsu đã không công bố vô ích nếu những Mối Phúc ấy không giúp duy trì trong ta sống ở trần gian này niềm khao khát vĩnh cửu.

PHỤ LỤC

Xét mình dựa trên các Mối Phúc

Cách tốt nhất để coi các Mối Phúc Tin mừng mà chúng ta vừa suy niệm là quan trọng, là dùng các Mối Phúc như một tấm gương để làm một cuộc xét mình “thực sự” mang tính Phúc âm. Theo thánh Giacôbê, tất cả Kinh Thánh là như một tấm gương mà người tín hữu phải soi bộ dạng mình trong đó, yên lặng, không vội vàng, để biết mình thực sự như mình là (x. Gc 1,23-25), nhưng những lời của Mối Phúc là tấm gương theo cách thức độc nhất.

“Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.” Tôi có tinh thần nghèo khó, nghèo bên trong, phó thác mọi sự cho Chúa không? Tôi có tự do và không dính bén với của cải trần thế không? Tiền bạc là gì đối với tôi? Tôi có tìm cách sống đạm bạc và đơn giản, phù hợp với những người muốn làm chứng cho Phúc Âm không? Tôi có quan tâm đến vấn đề nghèo khó khủng khiếp, không phải do mình chọn lựa, nhưng bị áp đặt cho hàng triệu anh em tôi không?

“Phúc cho những ai sầu khổ, vì sẽ được Thiên Chúa ủi an.” Tôi có coi đau khổ như một sự thất sủng và một hình phạt, theo cách người đời nói, hoặc coi đây là cơ hội để nên giống Đức Kitô không? Đâu là những lý do làm tôi buồn phiền: những lý do của Thiên Chúa hay của thế gian? Tôi có cố gắng an ủi người khác hay chỉ tìm sự an ủi cho tôi? Tôi có biết giữ những gì làm tôi phiền lòng như một bí mật giữa Chúa và tôi, không nói phải trái về nó không?

“Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.” Tôi có hiền lành không? Có bạo hành trong hành vi, nhưng cũng có bạo hành trong lời nói và tư tưởng. Tôi có biết chế ngự cơn giận trong tôi và ở bên ngoài tôi không? Tôi có tử tế và nhã nhặn với những người ở gần tôi không?

“Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng.” Tôi có đói khát sự thánh thiện không? Tôi có khao khát nên thánh hay từ lâu chỉ muốn sống làng nhàng và nguội lạnh không?

Tình trạng đói khát vật chất của hàng triệu người có làm cho tôi phải nghĩ lại về nếp sống trưởng giả, không ngừng tìm kiếm tiện nghi của tôi không? Tôi có nhận thấy thế giới tôi đang sống và tôi, chúng tôi thực tế đang giống như người giầu có bất nhân không?

“Phúc thay ai xót thương người vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.” Tôi có lòng thương xót không? Trước sai lầm của người anh em hay người cộng tác với tôi, tôi có phản ứng bằng cách xét đoán hoặc thương xót không? Đức Giêsu động lòng trắc ẩn trước đám đông, còn tôi thì sao? Đôi khi tôi có giống như người đầy tớ được tha thứ lại không biết tha thứ không? Biết bao lần tôi đã cầu xin và nhận được ơn thương xót của Chúa vì tội lỗi tôi, nhưng phải chăng tôi không nhận ra cái giá mà Đức Giêsu đã phải trả để cho tôi được hưởng phúc?

“Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch, vì họ dẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.” Tôi có trong sạch trong tâm hồn không? trong ý định của tôi không? Có nói có, không nói không như Đức Giêsu không? Có sự trong sạch trong tâm hồn, trong sạch trên môi miệng, trong sạch nơi con mắt, trong sạch nơi thân xác…Tôi có quan tâm vun trồng những sự trong sạch rất cần thiết này, cách riêng đối với những người đã tận hiến mình cho Chúa không? Đối lại trực tiếp nhất với sự trong sạch trong tâm hồn là sự giả hình. Còn tôi, khi hành động, tôi có cố gắng làm hài lòng Chúa hay làm hài lòng con người?

“Phúc thay những ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.” Chính tôi có phải là người xây dựng hòa bình không? Phải chăng tôi là người đem sự bình an đến cho mọi người? Tôi xử sự thế nào khi có tranh chấp về ý kiến, lợi lộc? Tôi có cố gắng chỉ luôn mang lại điều tốt, những lời nói tích cực, không nghĩ gì đến điều xấu, chuyện ngồi lê đôi mách, tất cả những gì gieo rắc sự bất hòa không? Hòa bình của Thiên Chúa có ở trong lòng tôi hay không, nếu không thì tại sao?

“Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.” Tôi có sẵn lòng chịu khổ một chút vì Phúc Âm không? Tôi phản ứng thế nào trước những điều dối trá hoặc những lăng nhục mà tôi phải chịu? Tôi có dự phần vào những đau khổ của biết bao nhiêu anh em thực sự chịu đau khổ vì đức tin, hoặc vì công bình xã hội hay vì sự tự do không?

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

CC: Corpus Christianorum

CSEL: Corpus Scriptorum Ecclesiasticorum Latinorum

Dspir: Dictionnaire de Spiritualité

GCS: Griechische Christliche Schriftsteller

PG: Patrologie Grecque

PL: Patrologie Latine

SCh: Sources Chrétiennes

Raniero Cantalamessa
Lm. Micae Trần Đình Quảng chuyển ngữ
Dịch theo bản tiếng Pháp
HUIT ÉTAPES VERS LE BONHEUR
Les Béatitudes évangéliques
Editions des Béatitudes, 2009

Nguồn: giaophandalat.com 

__________

[1] Les Béatitudes, Éd. Gabalda, Paris, 1973.

[2] Grégoire le Grand, Commentaire moral de Job, 20, 1 (CC 143A, p. 1003

[3] Cf. A. Gelin, Les pauvres de Jahvé, Paris, 1953 et Les pauvres que Dieu aime, Paris, 1968.

[4] Saint Augustin, Sermons 53, 1 (PL 38, 365); thánh Lêô Cả, Discours 95 sur Béatitudes, 1, 2 (PL 54, 462).

[5] cf. J. Dupont, Les Béatitudes, 3 vol., op. cit.

[6] Saint Thomas d’Aquin, Somme Théologique III, q. 40, a. 4.

[7] Il libro della beata Angela da Foligno, Quaracchi, Grottaferrata 1985, p. 642 tt (bản dịch tiếng Pháp: Le livre de la bienheureuse Angèle de Foligno, Éd. Jérôme Million, Paris, 1995).

[8] Saint Grégoire de Nysse, Sur les Béatitudes, 1 (PG 44, 1201B).

[9] x. Aa. V.v., Per foramen acus. Il cristianesimo antico di fronte alla pericope evangelica del giovane ricco, Vita e Pensiero, Milan, 1986.

[10] Clément Alex., Quale ricco si salva, 16, 3 (GCS 17, tr. 170) (bản dịch tiếng Pháp: Clément d’Alexandrie, Quel riche peut être sauvé?, Oeuvres choisies 16, 3).

[11] Lumen Gentium, 8.

[12] Saint Augustin, Commentaire sur l’évangile de saint Jean, XXXII, 8 (CCL 36, p. 304).

[13] Specchio di perfezione, 12 (Fonti Francescane, số 1695 (bản dịch tiếng Pháp: Le Miroir de la perfection, 12. Éd. Plon, Paris, 1911).

[14] J.K. Jerome, Three men in a boat, Longman, London, 1962 (bản dịch tiếng Pháp: Trois hommes dans un bateau, Gallimard Jeunesse, Paris, 2008.

[15] Ch.Péguy, Le porche du mytère de la deuxième vertu, dans Oeuvres poétiques complètes, Gallimard, Paris, 1957, p. 587.

[16] Lucrèce, De rerum natura, IV, 1129 tt.

[17] Saint Maxime le Confesseur, Capitoli vari, IV cent. 39 ; trong Filocalia, II, Turin, 1983, p. 249 (bản dịch tiếng Pháp : Chapitres variés, IV cent. 39).

[18] x. J. Dupont, Les Béatitudes, (III, ch. VII, § VI, p. 550).

[19] Virgile, L’Énéide, I, 462.

[20] C. A. Viano, Laici in ginocchio, Laterza, Bari.

[21] S. Kierkegaard, La malattia mortale, I, B ; II, 1, trong Opere, a cura di C, Fabro, Sansoni, Firenze, 1972, p. 633 tt (bản dịch tiếng Pháp: La maladie mortelle, trong Oeuvres, bản dịch của Régis Boyer, Collection Bouquins, R. Laffont, Paris, 1993).

[22] Benoit XVI, Discours aux évêques de la Conférence Épiscopale d’Irlande, 28.10.2006.

[23] Saint Augustin, Confessions, X, 43.

[24] Saint Siméon Nouv. Théol., Catéchèse, 2 (SCh 113).

[25] Id., Traité d’Éthique, 10 (SCh 129, tr. 318).

[26] Id., Catéchèse, 2 (SCh 113, tr. 350).

[27] Saint Augustin, Sermon 14, 9 (PL 38, 115 ss).

[28] Saint Thomas d’Aquin, Somme Théologique, I-II, 69.

[29] Saint Thokas d’Aquin, Somme théologique, I-II, q. 106, a. 2.

[30] Gandhi, Buddismo, Cristianesimo, Islamismo, Tascabili Newton Compion, Roma, 1993, p.53

[31] Saint Augustin, Confessions, X, 43.

[32] F. Nietzsche, Opere complete, VIII, Frammenti postumi 1888-1889, Adelphi, Milano, 1974, p. 56 (bản dịch tiếng Pháp: Oeuvres complètes, VIII, Gallimard, Cerf, Paris, 1990.

[33] cf. R. Girard, Je vois Satan tomber comme l’éclair, Grasset, Paris, 2000.

[34] Saint Augustin, Lettre XCIII, 5.

[35] cf. saint Augustin, Lettres CLXXIII, 10 ; CCVIII, 7.

[36] C. Augias, M. Pesce, Inchiesta su Gesù, Mondadori, Milano, 2006, p. 52 (bản dịch tiếng Pháp : Enquête sur Jésus, Éd. du Rocher, Paris, 2008).

[37] Saint Ignace d’Ant., Aux Éphésiens, 10, 2-3.

[38] Saint Augustin, Commentaire de la Première Epitre de Jean, 7, 8 (PL 35, 2035).

[39] cf. saint Augustin, Confessions, X, 29.

[40] D. H. Dodd, Storia ed Evangelo, Paideia, Brescia, 1976, p. 23.

[41] x. H. de Lubac, Exégèse médiévale, I, 1, Aubier, Paris, 1959, p. 119 tt.

[42] x. J. Dupont, op. cit. III, ch. V, § III, p. 355.

[43] A. von Harnack, Il cristianesimo et la società, Mendrisio, 1911. p. 12 ss.

[44] R, Bultmann , Il cristianesimo primitive, Garzanti, Milano, 1964, p. 203 (titre orig. Das Urchristentum im Rahmen der antiken Religionen)

[45] Sacramentum Caritatis, số 90.

[46] Ibid.

[47] cf. E.P. Sanders, Jesus and Judaism, London, 1985, p. 385.

[48] cf. J.D.G. Dunn, Gli albori del cristianesimo, I, 2, Paiedeia, Brescia, 2006, pp. 567-572.

[49] Ch. Péguy, La porche du mystère de la deuxième vertu, trong Oeuvres poétiques complètes, Éd. Gallimard, Paris, 1975, p. 571 ss.

[50] F. Dostoievski, L’idiota, Milano, 1983, p. 271 (bản dịch tiếng Pháp: L’idiot, Gallimard, Paris, 2002.

[51] F. Kafka, Il processo, Garzanti, Milano, 1993, p. 129 et s. (bản tiếng Pháp : Le Procès, Gallimard, Paris, 1987.

[52] Caed. F.X. Nguyễn Văn Thuận, Testimoni della speranza, Citta Nuova, Roma, 2000, p. 58 (bản tiếng Pháp : Témoins d’espérance, Mouvelle Cité, Paris, 2000.

[53] Saint Augustin, Sermons 69, 1 (PL 38, 440) : “Lutea vasa quae faciunt invicem angustias”.

[54] Ch. Péguy, Le porche de la deuxième vertu, trong Oeuvres poétiques complètes, Gallimard, Paris, 1975, p. 534.

[55] Saint Augustin, Explication du discours sur la montagne, II, 1, 1 (CC 35, p. 92).

[56] Ibid., II, 13, 45-46.

[57] Grégoire de Nysse, Sur les Béatitudes, 6 (PG 44, 1272).

[58] Saint Basile, Sur l’Esprit Saint, IX, 23 ; XXII, 53 (PG 32, 109, 168)

[59] cf. M. Dupuy, Pureté, purification, trong DSpir. 12, coll 2637-2645.

[60] Saint Bernard de Clairvaux, Sentences III, 2.

[61] Saint Jean Chrysostome, Homélie sur saint Matthieu, 15, 4.

[62] Ruysbroec l’Admirable, Lo splendore delle nozze spirituali, Citta Nuova, Roma, 1992, p. 72 tt (bản tiếng Pháp : L’ornement des noces spirituelles, Éd. Universitaires, Paris, 1966).

[63] Blaise Pascal, Pensées, 147 Br.

[64] Saint Augustin, op. cit., 2, 5 (CC 35, tr. 95).

[65] S, Kierkegaard, La maladie mortelle, op. cit., p. 662 ss.

[66] Saint Ftancois d’Assiser, Admonestations 19 (SCh. số 285, pp. 109, 111)

[67] cf. Strack-Billerbeck, I, 718.

[68] Saint Augustin, Confessions, X, 36, 59.

[69] Lauretta, Il bosco dei lillà, Ancora, Milano, 1994, p. 90 ss.

[70] J. Dupont, op. cit., III, ch. VIII, § III, p. 637.

[71] Đây là bài suy niệm nói tại Phủ Giáo hoàng trong Mùa Vọng 2006.

[72] Pape Benoit XVI, La personne humaine, coeur de la paix, Message pour la Journée mondiale de la paix 2007.

[73] Pseudo-Denys l’Aéropagite, Les noms divins, XI, I tt (PG 3, 948 ss)

[74] Saint Augustin, La Cité de Dieu, XIX, 13 (CC 48, p. 679).

[75] Saint Thomas d’Aquin, Commentaire de l’Evangile de saint Jean, XIV, VII, no 1962.

[76] Saint Thomas d’Aquin, Somme théologique, I-II, 109, a. 1 ad 1; Ambrosiaster, sur la première lettre aux Corinthiens, 12, 3 trong CSEL (Corpus Sciptorum Ecclesiasticorum Latinorum) 81 p. 132.

[77] John Lennon, Imagine: “Imagine there’s no heaven / it’s easy if you try / No hell below us / above us only sky / Imagine all the people / living for today / Imagine there’s no countries / it isn’t hard to do / Nothing to kill or die for / and no religion too / Imagine all the people / living for today / Imagine all the people / living life in peace / You may say I‘m a dreamer / But I’m not the only one / I hope someday you’ll join us / and the world will live as one.”

[78] J.P. Sartre, Le diable et le bon Dieu, X, 4, Gallimard, Paris, 1951, p. 267 ss. ; Huis clos, Gallimard, Paris, 1947, p. 93

[79] Coran, sourate III, 40 ss.

[80] Magdi Allen, “Chúng tôi, những người Hồi giáo, chúng tôi chấp nhận máng cỏ”, Il Corriere sella Sera, 18.12.2006, p. 18.

[81] Saint Léon le Grand, Traité 26, (CC138, I, 130)

[82] Idiomelon des Grandes Vêpres de Noel

[83] H. Schlier, Demoni e spiriti maligni nel Nuovo Testamento, trong Riflessioni sul Nuovo Testamento, Paideia, Brescia, 1976, p. 194 ss (bản dịch tiếng Pháp: “Démons et esprits malins dans le Nouveau Testament” trong Essais sur le Nouveau Testament, Cerf, Paris, 1968).

[84] Ch. Hitchens, Dio non è grandeCome la religione avvelena ogni cosa, Einaudi, Torino, 2007, p. 13 t (tựa đề nguyên thủy trong God is not great. How religion poisons everything, Atlantic Books, New York, 2007).

[85] x. Những hộ giáo khác nhau, trong De la fuite et De la fuite en période de persécution.

[86] Cronaca dei Ministri Generali dell’Ordine dei Frati Minori, trong Analecta Franciscana, III, p. 15-19 (bản dịch tiếng Pháp: Chronique des Ministres Généraux de l’Ordre des Frères Mineurs).

[87] Saint Francois d’Assise, Première Règle, XVI (Sources Franciscaines 43).

[88] Saint Augustin, Lettres 89, 2. Contra Cresconio, 3, 47. 51 : “Non poena sed causa facit martyres.”

[89] Di chúc thiêng liêng của anh Christian de Chergé, Quand un A-Dieu s’envisage.

[90] Saint Augustin, Sermon CCCXXXV, 2.

[91] cf. Horace, Carmi 3, 3. 8: “Si fractus inlabatur orbis / impavidum ferient ruinae”.

[92] Thánh Ambrosiô, Traité des devoirs, livre I, 61.

[93] Thư thú hai của Clêment, 13

[94] E. De Luca trong Sottosopra, Montadori, Milano, 2007, p. 21 ss.

[95] Saint Thomas d’Aquin, Somme théologique, I-II, 69, 2.

[96] Ch. Péguy, “Le Mystère de la charité de Jeanne d’Arc”, trong Oeuvres complètes, Gallimard, Paris, 1975, p. 379 ss.

[97] M. de Unamuno, Cartas a J Llundain, trong Rev, Univ. Buenos Aires, 9, p. 135 và 150.

[98] Saint Augustin, Commentaire de l’Evangile de Jean, XLV, 2.

[99] S. Kierkegaard, Il concetto dell’angoscia, 4, trong Opere, op. cit. p. 188 (bản dịch tiếng Pháp: Le concept de l’angoisse, 4, Gallimard, Paris, 1949.

Related Articles

Back to top button