GIAO HOI CONG GIAOLưu trữ

TÌNH HUYNH ĐỆ – ÂN SỦNG VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA SỰ HIỆP THÔNG HUYNH ĐỆ

TĨNH TÂM GIÁO TRIỀU MÙA CHAY 2026 BÀI 2: TÌNH HUYNH ĐỆ - ÂN SỦNG VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA SỰ HIỆP THÔNG HUYNH ĐỆ Lm. Roberto Pasolini, OFM Cap. 20/03/2026

TĨNH TÂM GIÁO TRIỀU MÙA CHAY 2026 BÀI 2: TÌNH HUYNH ĐỆ – ÂN SỦNG VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA SỰ HIỆP THÔNG HUYNH ĐỆ

Lm. Roberto Pasolini, OFM Cap.

20/03/2026

WHĐ (20/3/2026) – “Tình huynh đệ – Ân sủng và trách nhiệm của sự hiệp thông huynh đệ” là chủ đề thứ II mà Cha Roberto Pasolini, Giảng thuyết Phủ Giáo hoàng, trình bày trong loạt bài suy niệm mùa Chay 2026 cho Đức Thánh Cha Lêô XIV và Giáo triều Roma diễn ra vào thứ Sáu, ngày 13/3/2026. Sau đây là toàn văn bài suy niệm bản dịch Việt ngữ do Nữ tu Anna Ngọc Diệp, OP thực hiện:

Trong bài suy niệm mùa Chay thứ nhất, chúng ta đã đi vào chính trung tâm của cuộc hoán cải nơi Phanxicô. Chúng ta nhận ra rằng ân sủng đã thực sự làm nên một sự biến đổi trong sự cảm nếm thiêng liêng của ngài, một sự thay đổi trong cảm thức, qua đó biến đổi cách thức mà Người Nghèo thành Assisi nhìn nhận chính mình, tha nhân và thực tại. Cuộc gặp gỡ với những người phong cùi, tiến trình dần dần tách mình khỏi các tham vọng trần thế, và việc chọn lựa đức khiêm nhường như một hình thức cụ thể của đời sống phát xuất từ Bí tích Rửa tội, cho thấy rằng hoán cải trước hết không phát sinh từ nỗ lực của ý chí, nhưng từ lời đáp trả đối với một Thiên Chúa, Đấng trong ân sủng của Ngài, luôn đi bước trước và kêu gọi chúng ta. Đó là một hành trình không bao giờ hoàn tất một lần là xong, nhưng là hành trình luôn không ngừng được bắt đầu lại.

Tuy nhiên, cuộc hoán cải ấy không dừng lại nơi Phanxicô như một kinh nghiệm đơn độc. Đến một thời điểm, chính Chúa đã ban cho ngài những người anh em. Và chính hồng ân này, bất ngờ và nhưng không, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi cách sâu xa, lại trở thành trọng tâm của bài suy niệm hôm nay. Tình huynh đệ không phải là yếu tố phụ thuộc của đời sống thiêng liêng, cũng không chỉ là một bối cảnh thuận lợi giúp tăng trưởng trong ân sủng cách dễ dàng hơn. Trái lại, đó là nơi mà sự hoán cải thực sự diễn ra: là phép thử nghiêm túc nhất, và đồng thời cũng là dấu chỉ hùng hồn nhất về điều mà Tin mừng có thể thực hiện trong đời sống chúng ta.

Hành trình mà chúng ta sắp bước vào được phân thành năm chặng. Trước hết là nguồn gốc của tình huynh đệ Phanxicô như một hồng ân được lãnh nhận. Kế đến là tính hiện thực của Kinh thánh trước thực trạng tình huynh đệ bị khước từ, qua trình thuật Cain và Abel. Tiếp theo là đòi hỏi của một tình yêu vượt lên trên sự thân thiện đơn thuần. Rồi đến nền tảng Kitô học, thiếu nền tảng này thì không một mối dây huynh đệ nào có thể thực sự bền vững. Sau cùng là viễn tượng cánh chung, trong đó tình huynh đệ đã được sống, theo một nghĩa nào đó, trở thành sự nếm hưởng trước của sự sống đời đời.

1. Hồng ân của những người anh em

Vào khởi đầu của cuộc hoán cải, Phanxicô sống trong cô tịch. Rồi Chúa đã ban cho ngài những người anh em, và đó là một bất ngờ lớn đối với ngài. Trong Di chúc, ngài hồi tưởng lại như sau:

Và sau khi Chúa đã ban cho tôi một vài anh em, không ai chỉ dạy tôi phải làm gì, nhưng chính Đấng Tối Cao đã mặc khải cho tôi rằng tôi phải sống theo khuôn mẫu của Tin mừng thánh” (Testament 14, Franciscan Sources 116).

Phanxicô không hề có ý định sáng lập một cộng đoàn tu trì. Sự xuất hiện của những người bạn đồng hành như Bênađô và Phêrô đã thúc đẩy ngài một lần nữa lắng nghe Thiên Chúa và tự vấn lại về thánh ý Ngài. Ba người cùng nhau bước vào một nhà thờ, mở Sách thánh, và tìm kiếm lộ trình của mình nơi đó. Họ hiểu rằng mình được mời gọi sống theo Tin mừng: lao động bằng chính đôi tay, hiệp thông với Giáo hội, rao giảng sự thống hối, và đan xen giữa những thời khắc tĩnh lặng với đời sống giữa lòng dân chúng.

Như thế, tình huynh đệ được khai sinh. Trong đó có người quyền quý cũng như dân thường, kẻ giàu cũng như người nghèo, giáo sĩ cũng như giáo dân. Phanxicô mong muốn giữa các anh em không tồn tại những tương quan quyền lực hay sự trổi vượt, như trong xã hội đương thời. Tất cả đều mang cùng một danh xưng: Anh Em Hèn Mọn (Fratres Minores). Hình thức của tình huynh đệ Phanxicô tiên khởi tìm cách trung thành với lời dạy của Đức Giêsu: “Anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau. Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời” (Mt 23,8-9).

Khi đọc các trước tác của Phanxicô, người ta lập tức cảm nhận được nơi ngài một khát vọng về một tình huynh đệ sống động, mãnh liệt và chan chứa sự ấm áp nhân bản. Vì thế, không có gì ngạc nhiên khi trong các Bản luật lại có những chỉ dẫn hết sức rõ ràng và cụ thể:

Tất cả anh em không được có quyền thống trị. Nhưng ai muốn làm lớn giữa họ, thì phải trở nên người phục vụ và tôi tớ của họ. Và ai là người lớn giữa họ, thì phải trở nên nhỏ bé. Không một anh em nào được nói xấu hay làm điều xấu cho anh em khác. Trái lại, họ phải phục vụ và vâng phục lẫn nhau trong tình yêu của một tâm hồn tự nguyện” (Regula non Bullata V, 9-13, Franciscan Sources 19-20).

Và còn nữa:

Bất cứ nơi nào các anh em hiện diện hay gặp nhau, các anh em hãy cư xử với nhau như những người trong cùng một gia đình. Các anh em hãy đừng sợ hãi bày tỏ cho nhau những nhu cầu của mình; vì nếu người mẹ nuôi dưỡng và yêu thương con mình theo xác thịt thế nào, thì mỗi người lại càng phải yêu thương và nuôi dưỡng người anh em thiêng liêng của mình cách ân cần hơn biết bao” (Regula Bullata VI, 7-8, Franciscan Sources 91-92).

Trong những lời này, người ta nhận ra cùng một thần khí đã linh hứng cho các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi: “Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung” (Cv 4,32).

Tuy nhiên, tình huynh đệ hoàn toàn không phải là một kinh nghiệm dễ dàng đối với Phanxicô và các anh em của ngài. Một số đoạn trong Regula non Bullata cho chúng ta thoáng thấy những căng thẳng và khó khăn rất thực tế. Những lời của Phanxicô dường như xuất phát trực tiếp từ chính những hoàn cảnh mà ngài đã trải qua: “Tất cả anh em phải giữ mình khỏi nói hành nói xấu và tranh cãi bằng lời… Anh em cũng không được gây gổ với nhau… Anh em không được nổi giận… Anh em không được xét đoán hay kết án” (Regula non Bullata XI, 1-13, FF 36-37).

Từ những lời này, chúng ta có thể hiểu vì sao Phanxicô xác tín rằng đời sống của các anh em phải lấy Tin mừng làm chuẩn mực duy nhất. Tình huynh đệ không phải – và chưa bao giờ là – một nơi trú ẩn để tìm kiếm sự yên ổn, như thể chỉ cần ở bên nhau là đủ để đạt được bình an. Trái lại, đó là không gian nơi mỗi người được dẫn trở về với chiều sâu của chính cõi lòng mình, với tất cả những bóng tối và những kháng cự nội tâm.

Anh chị em của chúng ta là một hồng ân đến từ Chúa. Nhưng chính vì thế, vai trò của họ không chỉ đơn thuần là nâng đỡ hay trợ giúp chúng ta trên hành trình: họ được trao phó cho chúng ta để chính đời sống chúng ta được biến đổi. Nhờ họ, con tim chúng ta được mời gọi hoán cải, chuyển từ “trái tim bằng đá” sang “trái tim bằng thịt”, như Kinh thánh nói. Thật vậy, anh chị em không được trao cho chúng ta để xác nhận con người hiện tại của chúng ta, nhưng để biến đổi chúng ta. Trong sự đa dạng, trong những giới hạn, và đôi khi cả trong những giằng co của họ, họ trở thành không gian cụ thể nơi Thiên Chúa hành động trên nhân tính chúng ta, làm mềm đi sự cứng cỏi và dạy chúng ta biết sống với một con tim chân thật hơn, có khả năng yêu thương hơn.

Ngay cả từ Hy Lạp chỉ “anh em” cũng gợi lên mầu nhiệm này. Adelphós theo nghĩa đen là “người phát xuất từ cùng một lòng mẹ”. Theo Tin mừng, lòng mẹ chung ấy không chỉ đơn thuần là nhân tính, nhưng bắt nguồn từ chính Thiên Chúa, Đấng mà không ai từng thấy và được Người Con mặc khải cho chúng ta (x. Ga 1,18). Chính điều này làm cho tình huynh đệ vừa trở nên quý giá, vừa mang tính đòi hỏi: người khác không giống tôi, cũng không thuộc về tôi, nhưng đến từ Thiên Chúa.

2. Chúng ta trở thành anh em

Với một tầm nhìn đầy tính hiện thực, Kinh thánh cho thấy rằng việc nhận ra người khác như là anh em hoàn toàn không phải là một tiến trình tức thời. Khi lần theo cội nguồn của bạo lực xuyên suốt lịch sử nhân loại, trình thuật Sáng thế chương 4 cho thấy, qua mối tương quan đầy xáo trộn giữa Cain và Abel, rằng tình huynh đệ trước hết lại là điều bị khước từ. Dường như trình thuật này là một lời đáp cho câu hỏi của ngôn sứ Malakhi: “Tất cả chúng ta chẳng có cùng một cha sao? Chẳng phải cùng một Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta sao? Thế mà sao chúng ta lại bội phản nhau mà vi phạm giao ước của cha ông chúng ta?” (Ml 2,10). Trọng tâm của bản văn này, tuy khắc nghiệt nhưng chân thật, không hệ tại nơi hành vi sát nhân, mà ở sự thiếu vắng tình huynh đệ.

Điểm cốt lõi của vết thương nguyên thủy này nằm trọn trong một vấn đề về nhãn quan. Trình thuật Sáng thế chỉ đơn giản ghi nhận rằng Thiên Chúa đoái nhìn lễ vật của Abel, nhưng không đoái nhận lễ vật của Cain. Bản văn rất ngắn gọn và không giải thích lý do; vì thế, qua các thời đại, đã có nhiều nỗ lực giải thích khác nhau. Một trong những cách giải thích có sức thuyết phục nhất xuất phát chính từ một chi tiết trong câu chuyện: Abel dâng những con đầu lòng của đàn chiên, còn Cain chỉ dâng một phần hoa màu của đất. Abel dường như dấn thân chính mình vào lễ vật, dâng hiến điều thuộc về mình nhất và quý giá nhất; trong khi đó, Cain dường như chỉ giới hạn ở việc trao tặng một cái gì đó. Điều tạo nên sự khác biệt không phải là phẩm chất của lễ vật, nhưng là việc điều được dâng có thực sự biểu lộ chính sự sống của người dâng hay không. Chính vì thế, Thiên Chúa không đón nhận lễ vật của Cain: không phải để kết án anh, nhưng để đánh động anh. Nếu chấp nhận cử chỉ ấy, điều đó sẽ khiến anh tin rằng mình thực sự không có gì tốt đẹp để dâng hiến. Trái lại, Thiên Chúa dường như muốn giúp anh tin rằng chính cuộc đời anh cũng có thể trở thành một lễ vật.

Tuy nhiên, Cain đã không hiểu cử chỉ của Thiên Chúa theo hướng đó. Anh không đáp lại lời Thiên Chúa, cũng không nói với Abel. Trình thuật ngày càng trở nên vắn gọn, hướng đến hành vi bi thảm: Cain xông đến em mình và giết chết em. Đó không chỉ là một hành vi bạo lực, nhưng còn là dấu chỉ của một mối tương quan đã trở nên không thể chịu đựng nổi. Sau tội ác, mặc cảm tội lỗi tràn ngập tâm hồn ông. Và chính lúc ấy, Thiên Chúa lại can thiệp một lần nữa theo một cách đầy bất ngờ: Ngài không tiêu diệt Cain, nhưng bảo vệ anh, đặt trên anh một dấu ấn để không ai giết anh. Ngay cả sau khi sự dữ anh đã gây ra, Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi anh.

Câu chuyện này đặt trước chúng ta một câu hỏi không thể né tránh: Cain là ai nơi chính chúng ta? Cám dỗ tự nhiên nhất là đồng hóa mình với Abel: người vô tội, người công chính bị hiểu lầm, người dâng hiến tất cả mà không nhận lại gì. Đó là một vị thế đem lại sự yên tâm, thậm chí có phần nâng đỡ. Nhưng Kinh thánh không để chúng ta dừng lại trong sự an tâm ấy. Kinh thánh mời gọi chúng ta thực hiện một bước đi trung thực và khó khăn hơn: nhận ra rằng câu chuyện của Cain có liên hệ trực tiếp đến chính chúng ta.

Trong mỗi chúng ta đều tiềm ẩn cùng một khả năng trở nên cứng cỏi, khép kín, để cho nỗi oán hận hóa thành khoảng cách, và rồi khoảng cách ấy dần biến thành một dạng bạo lực. Không nhất thiết là bạo lực thể lý, nhưng là một thứ bạo lực có thật: sự im lặng cố chấp, những lời gây tổn thương, sự thờ ơ được dựng lên như một bức tường. Chính chúng ta nữa, rất thường khi, thốt lên hai tiếng “anh em” và nói về “tình huynh đệ” bằng môi miệng nhiều hơn là bằng con tim. Chúng ta dùng những lời ấy trong các bài diễn văn, trong các bản văn, trong các câu chuyện chúng ta kể về chính mình, nhưng để làm cho chúng trở nên chân thực trong những chọn lựa hằng ngày thì lại khó biết bao.

Phản ứng của Cain bắt nguồn từ một điều rất đơn giản: sự hiện diện của người khác. Abel không làm gì chống lại anh. Abel sống, dâng lên Thiên Chúa những gì mình có, và được Ngài đoái nhìn với ân sủng. Nhưng chỉ chừng ấy thôi cũng đủ làm Cain xao động, bởi vì người khác nhắc anh nhớ đến một chân lý khó chấp nhận: rằng ta không cô độc, và ta không phải là tất cả. Khi ta không thể hòa giải với thực tại này, sự hiện diện của người khác có thể trở nên không thể chịu đựng nổi.

Hồng ân của tình huynh đệ bắt đầu trở thành hiện thực khi ta ngừng chỉ tay kết án người khác và bắt đầu nhận ra rằng chính mình có thể là kẻ trước hết phải chịu trách nhiệm về sự dữ. Bước ngoặt quyết định này trong tiến trình hoán cải lại đặc biệt áp dụng cho chúng ta là những Kitô hữu. Chúng ta rất muốn thể hiện mình trước thế giới như những người đã giải quyết xong vấn đề tình huynh đệ: như những “người tốt” luôn giúp đỡ tha nhân, như những chứng nhân của một tình yêu luôn hữu hiệu. Nhưng, may thay, thực tại không hẳn là như vậy.

Tin mừng mở ra một viễn tượng khác, mang tính giải thoát hơn nhiều. Những người thực sự có thể làm điều thiện không phải là những “người tốt”, nhưng là những ai đã có can đảm nhìn nhận bóng tối của chính mình. Không phải những người xây dựng cho mình một hình ảnh tốt đẹp, nhưng là những ai đã thấy nơi mình khả năng gây ra bạo lực và phó thác điều đó cho Thiên Chúa, để rồi khám phá ra rằng dung nhan của Ngài là chậm bất bình và giàu long xót thương. Tình huynh đệ đích thực không phát sinh từ những người chưa từng làm tổn thương ai, nhưng từ những người đã nhận ra mình có khả năng làm điều đó và quyết tâm không bao giờ làm như thế nữa. Chính kinh nghiệm về lòng thương xót dạy chúng ta điều này: ai ý thức mình đã được tha thứ thì học biết không lấy ác báo ác.

3. Yêu thương hơn

Việc nhận ra rằng nơi chính mỗi chúng ta cũng tiềm ẩn khả thể của Cain không phải là điểm kết thúc, nhưng là khởi đầu của hành trình. Một câu hỏi rất cụ thể lập tức được đặt ra: sự thiếu vắng tình huynh đệ này biểu lộ thế nào trong đời sống thường ngày? Không phải lúc nào – thực ra hầu như không bao giờ – nó xuất hiện dưới những hình thức cực đoan của bạo lực thể lý. Thường hơn, nó mang những dáng vẻ tinh vi hơn, nhưng không kém phần gây đau đớn. Chúng ta có thể đẩy người khác ra bên lề, phớt lờ điều họ nói, hoặc xem nhẹ những gì họ làm như thể chẳng đáng kể. Đôi khi, chúng ta còn tìm cách thu hẹp không gian họ hiện diện bên cạnh mình, như thể sự có mặt của họ là một vấn đề cần phải kiểm soát.

Truyền thống Phanxicô còn lưu giữ một lá thư mà Phanxicô viết cho một trong các thừa tác viên của mình vào khoảng những năm 1221–1223, khi Dòng đang phát triển nhanh chóng và những căng thẳng tất yếu của đời sống huynh đệ bắt đầu xuất hiện. Người nhận thư là một tu huynh mệt mỏi và chán nản: một số anh em của thầy cư xử khó khăn, và thầy cảm thấy điều đó cản trở mình sống mối tương quan với Thiên Chúa cách tốt đẹp. Vì thế, thầy nghĩ rằng giải pháp có thể là giữ khoảng cách, có lẽ lui về một nơi ẩn tu để tìm lại sự bình an.

Phanxicô trả lời thầy theo một cách thế thật bất ngờ. Ngài không bảo thầy sửa dạy anh em mình, cũng không khuyên thầy rút lui. Trái lại, ngài gợi ý rằng chính trong hoàn cảnh khó khăn ấy, thầy có thể thực sự bước theo Đức Kitô. Vì thế, ngài mời gọi thầy nhìn cả những trở ngại và xúc phạm như những cơ hội của ân sủng:

Những gì cản trở con yêu mến Chúa là Thiên Chúa, và bất cứ điều gì có thể là chướng ngại cho con hay cho các anh em, dù người ta có đánh đập con, tất cả những điều ấy con phải đón nhận vì ân sủng. Hãy muốn điều đó, chứ đừng muốn điều gì khác. Và hãy yêu thương những người làm điều đó cho con. Đừng mong nơi họ điều gì, ngoài điều Chúa ban cho con. Và trong điều đó, hãy yêu thương họ; cũng đừng mong họ trở nên Kitô hữu tốt hơn. Và điều đó phải quý giá đối với con hơn cả một nơi ẩn tu” (Letter to a Minister, Franciscan Sources 234).

Từ viễn tượng này, tình huynh đệ không phải là một gánh nặng phải chịu đựng, nhưng là nơi chân lý của đời sống thiêng liêng chúng ta được mạc khải. Phanxicô còn đi xa hơn khi khẳng định rằng dấu ấn của Tin mừng chính là lòng thương xót đối với người anh em sa ngã:

“[Ước gì] đừng có người anh em nào trên thế gian, dù đã phạm tội nhiều đến đâu đi nữa, mà sau khi nhìn thấy ánh mắt của con, lại ra đi mà không nhận được lòng thương xót của con, nếu họ xin lòng thương xót. Và nếu họ không xin, chính con hãy hỏi họ có muốn được xót thương không. Và dù họ có phạm tội trước mắt con đến ngàn lần, con hãy yêu thương họ hơn cả yêu mến tôi vì điều đó… và con hãy luôn chạnh lòng thương những người như vậy” (Franciscan Sources 235).

Điều mà vị thừa tác viên cảm nhận như một chướng ngại, thì trong cái nhìn của Phanxicô lại trở thành nơi chân thật nhất để gặp gỡ Thiên Chúa. Những tương quan huynh đệ mang dấu ấn của khó khăn không chỉ là những bước lùi, nhưng là con đường cụ thể qua đó ta học được logic của Tin mừng.

Một năng động rất tương tự cũng được tìm thấy trong Thư ngắn Thánh Phaolô gửi ông Philêmon. Vị Tông đồ viết cho một Kitô hữu tên là Philemon liên quan đến người nô lệ của ông là Onesimus. Sau một xung đột với chủ, Onesimus đã trốn đi và tìm đến với Phaolô, lúc ấy đang bị giam cầm. Phaolô đón nhận anh, loan báo Tin mừng cho anh và dẫn anh đến đức tin. Rồi ngài đưa ra một quyết định đầy can đảm: thay vì giữ anh lại bên mình, ngài gửi anh trở về với chủ. Nhưng ngài làm điều đó bằng cách kèm theo một lời thỉnh cầu có sức thay đổi tất cả. Thật vậy, ngài viết rằng Onesimus phải được đón nhận “không còn như một người nô lệ, nhưng thay vì một người nô lệ, như một người anh em rất thân mến” (Plm 16).

Trong đoạn văn rất ngắn này của Tân ước, điều đặc biệt nổi bật là cách thức Phaolô trình bày lời thỉnh cầu của mình. Ngài có đủ thẩm quyền để truyền lệnh, nhưng lại không làm như vậy. Ngài chọn kêu gọi sự tự do của Philemon và xin ông, “nhân danh tình yêu”, tự mình chọn điều phải làm. Phaolô không bước vào một cuộc tranh luận lý thuyết về chế độ nô lệ. Ngài làm một điều triệt để hơn: đưa vào mối tương quan ấy một logic mới. Dưới ánh sáng của Tin mừng, ngay cả một tương quan bị chi phối bởi quyền lực cũng có thể được biến đổi thành một tương quan huynh đệ.

Chính vì thế, bức thư ngắn gửi ông Philemon, trong truyền thống Kitô giáo, đã trở thành một mẫu gương rất cụ thể về việc các mối tương quan có thể được đổi mới ra sao khi chúng ta đưa vào đó một tình yêu lớn hơn. Mỗi khi các mối tương quan bị rạn nứt và sự hiệp thông bị tổn thương, Tin mừng trước hết không mời gọi ta bảo vệ quyền lợi của mình, nhưng thúc đẩy ta tìm kiếm điều thiện hảo lớn nhất luôn có thể đạt tới: điều giúp ta nhận ra người khác không còn là đối thủ hay con nợ, nhưng là một người anh em được Chúa yêu thương.

4. Từ sự chết đến sự sống

Nhưng liệu có thực sự khả thi để đi “thêm một dặm” trong kinh nghiệm yêu thương huynh đệ như thế không? Đòi hỏi của Tin mừng – vốn đôi khi xem ra rất xa rời đời sống thực tế – có nằm trong tầm tay của chúng ta chăng? Chúng ta là những Kitô hữu – và cách riêng là những tu sĩ – thường sống trong những môi trường mà bề ngoài mọi sự có vẻ trật tự và hòa nhã: không có tiếng la hét, không có cãi vã, người ta chào hỏi nhau cách tử tế, và các tương quan được duy trì đúng mực. Thế nhưng, chúng ta đều biết rằng sự yên ả bề ngoài ấy không nhất thiết phản ánh những tương quan chân thật và sâu xa. Trái lại, theo năm tháng, mỗi người chúng ta đều tích tụ trong lòng gánh nặng của những lời nói thiếu suy nghĩ, những phán đoán vội vàng, những ánh nhìn bị bỏ lỡ, những tương quan bị tổn thương hoặc đơn giản là phai nhạt dần theo thời gian.

Vậy tại sao chúng ta phải quay lại mảnh đất mong manh này và cố gắng để bắt đầu lại? Câu trả lời của Phanxicô đơn giản một cách rõ ràng: bởi vì các tương quan của chúng ta được đặt nền trên một mối dây tự do. Không phải trên sự đồng cảm hay đồng điệu, nhưng trên thực tại rằng chính Thiên Chúa đã chọn chúng ta và kêu gọi chúng ta sống với nhau trong Giáo hội như anh chị em.

Khi Phanxicô nhấn mạnh rằng những anh chị em “thiêng liêng” phải yêu thương nhau hơn cả những người ruột thịt, ngài không hề thiêng liêng hóa thực tại cũng không chỉ kêu gọi thiện chí suông. Ngài muốn nói rằng, là anh chị em trong đức tin, chúng ta phải có can đảm vượt lên trên bề mặt của các tương quan: dám đối diện với xung đột, chấp nhận khác biệt, và không trốn chạy khi các mối tương quan trở nên phức tạp. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi chúng ta nhớ rằng đâu là nguồn gốc của mối dây và ai là Đấng có quyền năng để bảo đảm cho mối dây này.

Chính Đức Giêsu cũng gợi lên điều này trong một trình thuật của Tin mừng theo thánh Máccô. Một ngày nọ, mẹ và anh em của Người từ nơi khác đến và tìm Người. Có người báo tin ấy cho Người khi Người đang ngồi giữa đám đông. Bấy giờ, Đức Giêsu nhìn những người chung quanh và hỏi: “Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?” Rồi Người rảo mắt nhìn những kẻ ngồi chung quanh và nói: “Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi! Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi” (Mc 3,33-35).

Đây không phải là một sự khước từ gia đình tự nhiên, cũng không phải là cử chỉ xa cách về tình cảm. Đức Giêsu đang mặc khải một thực tại sâu xa hơn: có một mối dây mạnh hơn huyết thống, bền vững hơn tương quan gia tộc, và chân thực hơn những cảm tình tự nhiên của chúng ta. Đó là mối dây phát sinh từ việc cùng nhau thi hành ý muốn của Chúa Cha. Mối dây này không tùy thuộc vào những gì đã được ban cho chúng ta – như nguồn gốc, xuất thân hay tính khí – nhưng dựa trên một chọn lựa chung: sống trong sự vâng phục Lời Thiên Chúa. Theo nghĩa này, Đức Giêsu không bãi bỏ gia đình, nhưng tái thiết lập gia đình trên một nền tảng mới, đó là tương quan với chính Người và sự vâng phục Lời của Người.

Điều này kéo theo những hệ quả rất cụ thể cho đời sống Giáo hội. Một cộng đoàn Kitô hữu – dù là huynh đoàn tu trì, giáo xứ, hay cộng đoàn linh mục – trước hết không phải là một nhóm thuần túy nhân loại, nơi các thành viên chọn lựa nhau dựa trên sự hợp ý hay những lý tưởng chung. Trái lại, đó là một cộng đoàn được quy tụ bởi tiếng gọi của Thiên Chúa, Đấng luôn đi bước trước và làm cho việc chúng ta sống với nhau trở nên khả hữu. Chính vì thế, tình huynh đệ không phải là điều chúng ta tự sức mình kiến tạo, nhưng là một hồng ân được lãnh nhận từ trên cao.

Nhưng chính vì thế, tình huynh đệ cần được nuôi dưỡng và trân quý, bằng việc không ngừng trở về với nguồn mạch của Thánh Thần và với một tương quan sống động với Đức Kitô. Khi nguồn mạch này trở nên vẩn đục – khi cầu nguyện biến thành thói quen máy móc, khi Lời Chúa không còn chạm đến lòng ta, khi các bí tích được cử hành mà thiếu sự tham dự của con tim – thì ngay cả những mối dây huynh đệ cũng dần dần mất đi nội lực của mình. Những hình thức bên ngoài vẫn còn đó: lời chào, nụ cười, sự lịch thiệp. Nhưng thực chất thì suy yếu, thậm chí tan biến. Sự sống này không thể được tái tạo nhờ các kỹ năng ứng xử hay chỉ bằng nỗ lực thiện chí đơn thuần. Nó chỉ có thể được tìm lại khi chúng ta, một lần nữa, để cho ánh nhìn của Đức Kitô chạm đến mình.

Chính Thánh Gioan Tông đồ đã diễn tả điều này với một sự đơn sơ đến kinh ngạc: “Chúng ta biết rằng: chúng ta đã từ cõi chết bước vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em. Kẻ không yêu thương, thì ở lại trong sự chết” (1 Ga 3,14). Đó là một khẳng định đầy sức mạnh. Gioan không nói rằng chúng ta yêu thương anh chị em vì chúng ta đã đi từ sự chết đến sự sống, như thể sự sống mới tự động sinh ra tình yêu ấy. Gần như ngược lại, ngài khẳng định: chính trong việc yêu thương anh chị em mà chúng ta có thể kiểm chứng liệu mầu nhiệm Vượt qua của Đức Kitô có thực sự đang hoạt động nơi chúng ta hay không.

Như thế, tình huynh đệ được sống trở thành nơi mà Bí tích Rửa tội mạc khải liệu nó có thực sự sinh hoa trái hay không. Chính tại đó, sự sống mới đã lãnh nhận trong Thánh Thần không còn là một lời hứa xa vời, nhưng trở thành một thực tại có thể chạm tới: một lịch sử được chia sẻ, những tương quan được hàn gắn, và một sự kiên nhẫn được canh tân.

Tiêu chuẩn thật đơn sơ và không cho phép chúng ta né tránh: mầu nhiệm Vượt qua bắt đầu hoạt động nơi chúng ta ngay khi chúng ta khám phá ra rằng mình có thể đón nhận người khác, ngay cả khi họ làm tổn thương mình, khi họ làm ta thất vọng, khi họ cư xử như những đối thủ. Không phải vì chúng ta đã trở nên mạnh mẽ hơn hay nhân đức hơn, nhưng vì nơi chúng ta đã có điều gì đó chết đi và một sự sống mới đã khởi sự.

5. Sự sống đời đời

Mầu nhiệm Vượt qua là tiêu chuẩn để chúng ta đo lường các tương quan huynh đệ của mình: qua cách đối xử với anh chị em mình, chúng ta có thể nhận ra liệu mình đã thực sự đi từ sự chết đến sự sống hay chưa. Chúng ta thường hình dung sự phục sinh của đời sống trong Đức Kitô như một biến cố chỉ thuộc về tương lai. Nhưng thực ra, sự phục sinh bắt đầu ngay từ bây giờ và dần thành hình trong cách chúng ta sống các mối tương quan và học biết yêu thương.

Một đoạn trong Regula non Bullata của Thánh Phanxicô soi sáng điểm này cách sâu sắc. Chúng ta có khuynh hướng nhìn người anh em làm tổn thương hay gây phiền muộn cho mình như một chướng ngại, như một người quá khác biệt với cách nghĩ của chúng ta, đến mức gần như coi họ là đối thủ. Thế nhưng, Phanxicô lại đảo ngược hoàn toàn cái nhìn ấy: chính con người đó có thể trở thành phương thế, mà qua đó, Thiên Chúa mở ra cho chúng ta sự sống đời đời.

Vậy, tất cả anh em chúng ta hãy chú tâm đến điều Chúa phán: ‘Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho những kẻ ghét anh em’. Quả thật, chính Đức Giêsu Kitô, Đấng mà chúng ta phải bước theo dấu chân, đã gọi kẻ phản bội mình là ‘bạn’, và đã tự nguyện trao nộp mình cho những kẻ đóng đinh Người. Vì thế, tất cả những ai vô cớ gây cho chúng ta thử thách, lo âu, nhục nhã và xúc phạm, đau khổ và tra tấn, tử đạo và cái chếthọ chính là bạn hữu của chúng ta. Chúng ta phải hết lòng yêu mến họ, bởi vì từ chính những gì họ gây ra cho chúng ta mà chúng ta có được sự sống đời đời.” (Regula non Bullata, Chapter XXII).

Trực giác này của Phanxicô thật đáng kinh ngạc, bởi vì nó đảo ngược cách suy nghĩ tự nhiên của chúng ta. Chúng ta thường nghĩ rằng con đường tiến về Thiên Chúa trước hết tùy thuộc vào những điều tốt lành chúng ta làm cho người khác. Thế nhưng, Phanxicô mời gọi chúng ta nhìn theo một hướng khác: đôi khi chính sự hoán cải của chúng ta lại phát sinh từ những gì người khác làm cho chúng ta, ngay cả khi họ làm tổn thương hoặc thử thách chúng ta. Đây là một chân lý khó chấp nhận, nhưng rất thực tế. Đời sống huynh đệ không chỉ được dệt nên bởi những việc tốt và những khoảnh khắc dễ chịu. Nó còn được cấu thành bởi những hiểu lầm, những vết thương và những cuộc đấu tranh. Thật vậy, những cơ hội tốt nhất để bước vào sự sống đời đời lại thường xuất hiện chính khi chúng ta bị tổn thương: trong những khoảnh khắc ấy, chúng ta có thể từ bỏ bạo lực và chọn con đường tha thứ, để cho tình yêu của Thiên Chúa được tỏ lộ và nên trọn vẹn nơi chúng ta.

Điều này mở rộng tầm nhìn của chúng ta cách sâu xa. Trong đời sống thường ngày, những khó khăn của tình huynh đệ có thể trở nên nặng nề. Những khoảng cách giữa chúng ta, những lời gây tổn thương, những hiểu lầm không được hóa giải, tất cả có thể trở nên đau đớn. Chính vì thế, ta không bao giờ được đánh mất chân trời. Khi mất đi viễn tượng về sự sống đời đời, có những khó khăn trở nên hoàn toàn không thể chấp nhận được.

Chủ đề về tình huynh đệ không chỉ liên quan đến đời sống Giáo hội: nó chạm đến khát vọng sâu thẳm nhất của nhân loại. Trong mọi thời đại và mọi nền văn hóa, con người vẫn mơ ước về một xã hội trong đó mọi người thực sự sống hòa hợp với nhau. Đó là một nỗi khát khao xuyên suốt mọi dân tộc, vượt lên trên ngôn ngữ, văn hóa và truyền thống tôn giáo. Các thi sĩ, nhạc sĩ và nghệ sĩ đã hình dung về một thế giới, nơi con người có thể thực sự nhận ra nhau như anh chị em. Nhiều hệ tư tưởng và mô hình kinh tế cũng đã tìm cách xây dựng sự hòa hợp phổ quát ấy, nhưng đều khám phá ra rằng việc biến nó thành hiện thực cho mọi người, ở mọi nơi, là điều hết sức khó khăn.

Chúng ta, những người tin vào Con Thiên Chúa làm người, mang trong lòng một xác tín đơn sơ và khiêm tốn: tình huynh đệ phổ quát chỉ trở nên khả thi khi nhân loại tái khám phá sự mở ra của mình đối với Đấng Siêu Việt. Như Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nhắc lại trong Thông điệp Fratelli tutti:

Là tín hữu, chúng ta tin rằng: nếu không hướng về Chúa, là Cha của mọi người, thì sẽ không có lý do khả tín và vững chắc nào để mời gọi con người sống tình huynh đệ. Chúng ta xác tín rằng: “chỉ với ý thức chúng ta là con chứ không phải là những trẻ mồ côi, thì chúng ta mới có thể sống hòa thuận với nhau. Vì “tự thân, lý trí có thể nắm bắt được tính bình đẳng giữa con người và thiết lập cộng đồng xã hội dân sự, nhưng lý trí không thể nào tạo nên tình huynh đệ” (Fratelli tutti, 272).

Khi nhận ra Thiên Chúa là Cha của mọi người, chúng ta học biết nhìn mỗi cá vị với một phẩm giá mà không một khác biệt văn hóa, xã hội hay tôn giáo nào có thể xóa bỏ. Đức tin không tách chúng ta khỏi người khác; trái lại, nhắc nhở chúng ta rằng không ai có thể bị loại trừ khỏi con tim chúng ta, bởi vì không ai vắng mặt trong trái tim của Cha trên trời. Vì thế, trong những ngày mùa Chay này, khi lịch sử thế giới vẫn còn bị xâu xé bởi chia rẽ, chiến tranh và xung đột, chúng ta, những Kitô hữu, không thể chỉ dừng lại ở việc nói về tình huynh đệ như một lý tưởng cần đạt tới. Chúng ta được mời gọi đón nhận tình huynh đệ như một hồng ân, và đồng thời ôm lấy nó như một trách nhiệm hết sức nghiêm túc và cấp bách.

Nhiệm vụ này luôn khởi đi từ môi trường gần gũi nhất của chúng ta: nơi những người cùng chia sẻ đời sống thuờng nhật với chúng ta. Không hiếm khi, ngay trong lòng Giáo hội, những khác biệt về cảm nhận, quan điểm hay phong cách trở thành nguyên nhân của xung đột và xa cách, đến mức tạo nên những phân cực thực sự. Đó là những dấu chỉ cho thấy việc đón nhận trọn vẹn thách đố của tình huynh đệ khó khăn biết bao. Tuy nhiên, hành trình Tin mừng mời gọi chúng ta bước thêm một bước nữa: nhận ra nơi người khác – ngay cả khi họ khác biệt, khó chịu hoặc xa lạ với cảm thức của chúng ta – như những người anh chị em đã được trao phó cho ta; và cố gắng lắng nghe họ, hiểu những lý do của họ, tôn trọng họ cách chân thành và hòa nhã.

Chúng ta có thể làm điều đó mà không chút sợ hãi, thậm chí trong một sự tự do trọn vẹn, bởi vì chúng ta biết rằng mình đã cùng với Đức Kitô bước từ sự chết vào sự sống. Sự phục sinh của Người không loại bỏ nỗ lực gian nan trong các mối tương quan, nhưng giải thoát chúng ta khỏi nghi ngờ rằng những nỗ lực ấy là vô ích. Chính vì thế, chúng ta có thể đảm nhận công việc xây dựng tình huynh đệ theo một cách mới: với sự hiền hòa, với lòng tôn trọng, và với niềm xác tín rằng mọi cử chỉ yêu thương huynh đệ đích thực – dù âm thầm nhất – đều đã thuộc về sự sống đời đời.

Lạy Thiên Chúa toàn năng, hằng hữu, công minh và giàu lòng thương xót, xin ban cho chúng con là những thụ tạo hèn mọn biết, vì tình yêu Chúa mà thực thi điều chúng con nhận biết là Chúa muốn, và luôn ước ao điều làm đẹp lòng Chúa; ngõ hầu, nhờ được thanh luyện trong tâm hồn, được soi sáng trong tâm trí, và được bừng cháy bởi lửa Chúa Thánh Thần, chúng con biết bước theo dấu chân Con yêu dấu của Chúa là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con; và chỉ nhờ ơn Chúa trợ giúp, chúng con được đến cùng Chúa, lạy Đấng Tối Cao, Đấng trong Ba Ngôi chí thánh và hiệp nhất duy nhất hằng sống, hiển trị và được tôn vinh, là Thiên Chúa toàn năng đến muôn thuở muôn đời. Amen.

Cha Roberto Pasolini, OFM Cap.

Giảng thuyết viên Phủ Giáo hoàng.

Nt. Anna Ngọc Diệp, OP

Dòng Đa Minh Thánh Tâm

Chuyển ngữ từ: vatican.va

TAGS:

Bài giảng tĩnh tâm Giáo triều Roma
Lm. Roberto Pasolini
Suy tư Mùa Chay

Related Articles

Back to top button